Tổng quan phát triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về Chuẩn mực Báo cáo tài chính tại Việt Nam

 

Hiện nay, Bộ Tài chính đang triển khai thực hiện Quyết định 480/QĐ -TTg ngày 18/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Kế toán - Kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và thực hiện Nghị quyết 35/ NQ- CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ, về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp (DN) đến 2020. Theo đó việc phát triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về Chuẩn mực Báo cáo tài chính (BCTC) tại Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách cần phải được sớm triển khai để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Để làm được điều này, Bộ Tài chính đang xây dựng đề án đưa IFRS vào Việt Nam và cập nhật, ban hành mới VAS/VFRS. Trong đó, đề cập đến hướng đi cho Việt Nam, lộ trình áp dụng, biện pháp triển khai, thực hiện,…

 

Trong những năm 2001 đến 2005, Việt Nam đã nghiên cứu, xây dựng và ban hành 26 Chuẩn mực kế toán (CMKT) dựa trên hệ thống CMKT quốc tế tại thời điểm đó. Sau hơn 10 năm áp dụng, không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của CMKT Việt Nam (VAS) trong việc nâng cao tính minh bạch và độ trung thực của BCTC, cung cấp những thông tin có chất lượng, phù hợp với trình độ quản lý và đặc thù  của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, do sức ép từ việc cải cách thể chế cũng như yêu cầu của nền kinh tế, VAS ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, một số nội dung chưa theo kịp với các thay đổi giao dịch của nền kinh tế thị trường, nhất là trong bối cảnh hoạt động tái cấu trúc DN, tổ chức tài chính và cổ phần hóa DN Nhà nước đang diễn ra mạnh mẽ, xuất hiện ngày càng nhiều các loại công cụ tài chính phức tạp.

 

Theo đánh giá của các định chế tài chính quốc tế và giới chuyên môn, sự khác biệt giữa VAS và IFRS hiện nay còn tương đối lớn, tạo ra một số rào cản và làm giảm niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Có thể nói, một trong những sự khác biệt lớn nhất giữa 2 hệ thống là nhiều khoản mục trên BCTC cần được đánh giá lại theo giá trị hợp lý hoặc giá trị có thể thu hồi theo IFRS nhưng vẫn được ghi theo giá gốc theo VAS và điều này, làm cho giá trị tài sản và nợ phải trả của DN chưa phản ánh đúng như diễn biến trên thực tế của thị trường. Việc chưa ban hành một số Chuẩn mực quan trọng như công cụ tài chính, tổn thất tài sản,… khiến các DN chưa có căn cứ pháp lý để ghi nhận các khoản tổn thất một cách kịp thời, các công cụ tài chính phái sinh chưa được sử dụng rộng rãi để phòng ngừa rủi ro cho hoạt động kinh doanh và một đất nước có tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm phần lớn trong nền kinh tế như Việt Nam lại chưa có CMKT cho lĩnh vực nông nghiệp.

 

Không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà IFRS mang lại. Khi áp dụng IFRS, chất lượng của BCTC của DN sẽ được cải thiện một cách rõ rệt, thông qua việc nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh, cung cấp cho người sử dụng BCTC nhiều thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản lý, điều hành và đầu tư. Mặc dù, cần nguồn lực đầu tư trước mắt nhưng về lâu dài, việc áp dụng IFRS sẽ làm giảm chi phí lập BCTC cho DN, thu hút được các nguồn lực từ công chúng trong và ngoài nước, huy động vốn với chi phí thấp. Ngoài ra, việc áp dụng IFRS cũng là một yếu tố để quốc tế công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, từ đó khơi thông dòng vốn FDI, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc bảo vệ các nhà đầu tư và tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

 

Tuy nhiên, cần hiểu rõ việc áp dụng IFRS tại Việt Nam không chỉ hoàn toàn thuận lợi. Thách thức, khó khăn nhất trong việc áp dụng IFRS là vấn đề nguồn nhân lực. Các trường đại học, nơi cung cấp nguồn nhân lực đầu ra cho xã hội chưa đưa vào chương trình đào tạo các nội dung của IFRS dẫn đến hầu hết sinh viên khi ra trường chưa được trang bị kiến thức về IFRS. Những người làm công tác kế toán tại các DN cũng chưa được đào tạo IFRS, do thiếu các cơ sở đào tạo có đủ trình độ hiểu biết chuyên sâu về IFRS. Hiện chỉ có một vài tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, ICAEW, CPA Australia có chương trình đào tạo nhưng số lượng người tham dự chưa nhiều, phạm vi phổ biến chưa rộng. Một khó khăn nữa là thị trường hoạt động (active market) của Việt Nam chưa đủ mạnh, các căn cứ phục vụ cho việc xác định giá trị giá trị hợp lý của một số tài sản và nợ phải trả chưa thực sự đáng tin cậy, nhất là trong bối cảnh tính tuân thủ luật pháp của một bộ phận DN chưa cao, dẫn đến tình trạng cố tình bóp méo các thông tin được công bố theo ý định chủ quan của người quản lý, điều hành phát sinh từ việc thực hiện các ước tính kế toán một cách không trung thực.

 

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, phạm vi hoạt động của các nhà đầu tư trải rộng trên toàn thế giới, kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại của từng quốc gia. Hiện nay chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) đang ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đến năm 2016 đã có 117 quốc gia áp dụng IFRS, trong đó gần 100 quốc gia áp dụng nguyên mẫu mà không có bất cứ sự sửa đổi nào. Ngay cả Hoa Kỳ, quốc gia có truyền thống áp dụng riêng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận (US GAAP) cũng đang trong quá trình hợp nhất US GAAP và IFRS. Vào khoảng mười năm trước đây, ý tưởng về việc áp dụng nguyên mẫu IFRS tại Việt Nam đã được đề cập nhưng còn khá xa vời, vì những hạn chế trong nhận thức và cách tiếp cận. Ngày nay, nhu cầu này đòi hỏi phải xúc tiến quá trình hài hòa, thống nhất CMKT quốc gia với CMKT quốc tế nhằm tạo ra một ngôn ngữ chung về kế toán, giúp thúc đẩy môi trường kinh doanh, tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

 

Hướng đến việc thực hiện chiến lược kế toán, kiểm toán đến 2030, Bộ Tài chính đang xây dựng đề án và lộ trình cụ thể, để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, đảm bảo vừa mang tính hội nhập, vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý và đặc thù của nền kinh tế. Theo đó, đang gấp rút triển khai nghiên cứu các nội dung của IFRS, xem xét sự khác biệt giữa VAS và IFRS và đánh giá các tác động, tính khả thi, lợi ích cũng như khó khăn, thách thức có thể gặp phải khi áp dụng IFRS, từ đó xây dựng lộ trình và định hướng cho Việt Nam trong việc áp dụng IFRS. Một trong những câu hỏi lớn đặt ra cho Việt Nam hiện nay là, áp dụng IFRS như thế nào, áp dụng nguyên mẫu hay có điều chỉnh. Nếu có thì đối tượng nào nên áp dụng nguyên mẫu, đối tượng nào nên áp dụng từng phần có chọn lọc kèm theo một số sửa đổi cho phù hợp với đặc thù của nền kinh tế.