Đào tạo Kế toán trong thời kỳ hội nhập kinh tế Thế giới

Ngày đăng: 06/08/2017 - Lượt xem: 701 (lần)
PGS.TS. Trần Thị Cẩm Thanh,TrưởngKhoa Kinh tế & Kế toán, Trường Đại học Quy Nhơn ThS. Trần Thị Yến, Khoa Kinh tế & Kế toán, Trường Đại học Quy Nhơn

TÓM TẮT

Lợi ích của việc vận dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) cũng như xu thế chung của các quốc gia trên thế giới trong việc áp dụng IFRS đã đặt ra yêu cầu Việt Nam phải tích cực, khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới áp dụng IFRS trong thời gian sắp tới. Chính vì thế, rất nhiều yêu cầu đã đặt ra cho các trường Đại học và Hiệp hội nghề nghiệp kế toán của Việt Nam trong công tác đào tạo và cập nhật kiến thức IFRS, tạo bước đà quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kế toán khi vận dụng IFRS tại ViệtNam. Bài viết tập trung trao đổi một số ý kiến liên quan đến những vấn đề cần được thực hiện để có thể vận dụng đi đến áp dụng IFRS vào các doanh nghiệp (DN) Việt Nam trong điều kiện hiện tại.

Từ khóa:IFRS, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế; nhân lực kế toán, tổ chức nghề nghiệp kế toán.

 

1. Đặt vấn đề

Trong 10 năm gần đây, việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đã phát triển nhanh chóng và được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới. Qua khảo sát của Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), 117/140 quốc gia được khảo sát vào tháng 5 năm 2016 đã yêu cầu các công ty niêm yết áp dụng IFRS. Hầu hết các nước còn lại đã cho phép áp dụng IFRS. Tất cả các tổ chức có tác động quan trọng đến nền kinh tế thế giới như G20, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Hội đồng Ổn định Tài chính Quốc tế (FSB) và Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) đều ủng hộ và hỗ trợ việc áp dụng IFRS trên toàn cầu. Còn tại Việt Nam hiện nay, báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp đang được áp dụng theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được Bộ Tài chính ban hành thành 5 đợt từ năm 2001 đến năm 2005 với 26 chuẩn mực. VAS được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế và trình độ quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực. Về cơ bản, không thể phủ nhận tác dụng tích cực của VAS trong giai đoạn trước đây. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi về thể chế kinh tế trong nước cũng như thay đổi trong hệ thống IFRS trong giai đoạn hiện nay, VAS đã bộc lộ nhiều tồn tại, đặc biệt là những giao dịch của nền kinh tế thị trường mới phát sinh chưa được VAS giải quyết thấu đáo, như việc ghi nhận và đánh giá tài sản, nợ phải trả theo giá trị hợp lý, ghi nhận tổn thất tài sản, việc kế toán các công cụ tài chính phái sinh cho mục đích kinh doanh và phòng ngừa rủi ro,… chưa có hướng dẫn cụ thể. Trong bối cảnh nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng với khu vực và thế giới, để cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển bền vững, hỗ trợ thị trường chứng khoán, bảo vệ nhà đầu tư và thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ đã yêu cầu phải nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính. Mặt khác, để có thể tiếp cận các dòng vốn trên thị trường quốc tế, niêm yết tại thị trường nước ngoài, yêu cầu lập BCTC theo IFRS đang trở thành nhu cầu ngày càng bức thiết và là xu hướng tất yếu của các tập đoàn, các công ty đại chúng.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế, năm 2014, Bộ Tài chính đã ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC (thay thế Quyết định số 15/2006 ngày 20/03/2006) và Thông tư số 202/2014/TT-BTC về hướng dẫn lập BCTC hợp nhất. Các Thông tư mới này đã góp phần nâng cao chất lượng của BCTC, cung cấp các thông tin đáng tin cậy phục vụ việc ra quyết định kinh tế và thu hẹp khoảng cách giữa chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam với IAS/IFRS. Ngày 21/12/2016, Bộ Tài chính, Hội Kế toán & Kiểm toán Việt Nam và Hiệp hội kế toán công chứng Anh quốc (ACCA) phối hợp tổ chức hội thảo Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) - Định hướng và lộ trình áp dụng tại Việt Nam nhằm tập hợp ý kiến về lợi ích, tác động, khó khăn, tính khả thi áp dụng IFRS, từ đó xác định phương án và lộ trình áp dụng IFRS của Việt Nam. Bộ Tài chính định hướng thay đổi chuẩn mực kế toán VAS, từ năm 2025 sẽ áp dụng IFRS. Dự kiến đến 2020, VAS phải được ban hành lại và ban hành mới trên cơ sở cập nhật những thay đổi của IFRS. Hiệu lực của VAS/VFRS mới sẽ được bắt đầu từ 1/1/2020. Trong đó, các đơn vị có lợi ích công chúng sẽ dần chuyển đổi từ VAS/VFRS sang IFRS và đến 2025 phải hoàn tất quá trình chuyển đổi. Việc áp dụng hoặc cho phép áp dụng IFRS vào Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, nhất là sau khi Luật Kế toán có hiệu lực vào ngày 01/01/2017.

Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) trước đây và Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) ngày nay là hệ thống các Chuẩn mực quốc tế phục vụ công tác lập BCTC tại các doanh nghiệp. Theo thông lệ nhiều nước trên thế giới, chỉ những doanh nghiệp tương đối lớn, có lợi ích công chúng mới là đối tượng bắt buộc áp dụng các chuẩn mực này. Các doanh nghiệp khác là đối tượng được khuyến khích áp dụng nếu đủ khả năng chứ không bắt buộc. Hiện nay IASB đang trong quá trình chuyển đổi từ IAS sang IFRS, dự kiến sẽ có khoảng hơn 40 IFRS được ban hành, kèm theo là các diễn giải áp dụng Chuẩn mực và diễn giải cho một số tình huống. Ngoài ra, các IFRS cũng không phải là bất biến mà hàng năm IASB đều xem xét lại các IAS/IFRS và có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình kinh tế thế giới. Có thể nói IFRS đóng góp giá trị to lớn đối với tính bền vững của nền kinh tế toàn cầu: IFRS tạo sự minh bạch, đồng thời, giúp nâng cao trách nhiệm giải trình bằng cách giảm bớt lỗ hổng thông tin giữa nội bộ và bên ngoài công ty. Thông qua áp dụng IFRS, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thể được hưởng lợi từ hội nhập như tiếp cận nguồn vốn, duy trì năng lực cạnh tranh và phát triển một cách bền vững. Mặc dù có rất nhiều lợi ích trong việc áp dụng IFRS, nhưng để áp dụng được IFRS, các doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị rất nhiều thứ từ nhân lực đến vật lực.

2. Thực trạng đào tạo kế toán tại các Trường Đại học ở Việt Nam hiện nay

          Hiện nay, cả nước có khoảng 300 trường đang đào tạo ngành kế toán và kiểm toán ở  nhiều cấp bậc khác nhau, từ trung cấp, cao đẳng, đại học, cao học và tiến sĩ với đủ các hệ chính quy và không chính quy. Chương trình đào tạo (CTĐT) bậc đại học của một số trường trong những năm gần đây có nhiều cải tiến căn bản về cả nội dung lẫn hình thức, kể cả quốc tế hoá CTĐT bằng cách lồng ghép các môn học kế toán quốc tế giảng dạy bằng tiếng Anh hoặc liên kết với CTĐT của các trường đại học trên thế giới. Tuy nhiên, phần lớn nội dung các môn học kế toán trong CTĐT của các trường vẫn hoàn toàn dựa trên VAS và các Chế độ kế toán Việt Nam. Mặc dù VAS được soạn thảo trên nền tảng tham khảo IAS, nhưng VAS vẫn còn khoảng cách khá lớn để có thể hòa hợp với quốc tế. Bên cạnh đó, cách triển khai giảng dạy các môn học kế toán tại các trường đại học hiện nay nặng về mặt kỹ thuật, chủ yếu là kỹ thuật tính toán, ghi chép tỉ mỉ các nghiệp vụ kinh tế vào sổ sách kế toán và cuối cùng lập các BCTC. Vì vậy, nếu IFRS được phép áp dụng tại Việt Nam thì việc đưa IFRS vào CTĐT của các trường sẽ gặp nhiều khó khăn và thách thức. Như vậy, nếu không có những thay đổi và cách tiếp cận mới thì khi Việt Nam áp dụng IFRS, sinh viên của các trường sẽ rất khó khăn để tiếp cận IFRS, từ đó sẽ chịu thiệt thòi trong môi trường cạnh tranh về nguồn lực lao động trong khu vực và thế giới.

Bộ Tài chính cũng nhận định rõ vấn đề nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt, quyết định đến sự thành công trong việc áp dụng IFRS tại Việt Nam. Đặc biệt, theo TS. Vũ Đức Chính – Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán & Kiểm toán, Bộ Tài chính, nguồn nhân lực trong nước nhìn chung chưa được đào tạo về IFRS, thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc thực hành IFRS. Phần lớn sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về IFRS do hầu hết các trường đại học chưa giảng dạy cả về mặt nội dung cũng như phương pháp nghiên cứu IFRS.

Đặc biệt các cơ sở đào tạo (các trường đại học, Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và các đơn vị đào tạo trong nước) tại Việt Nam hiện chưa có chương trình đào tạo về IFRS một cách hệ thống. Hiện mới chỉ có một số các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như Hiệp hội Kế toán Anh quốc (ACCA), Hiệp hội Kế toán công chứng Australia (CPA Australia), Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW) có chương trình đào tạo IFRS cho một số ít học viên. Một số công ty kiểm toán như các công ty trong nhóm Big 4 cũng mới chỉ đào tạo IFRS chủ yếu cho nhân viên trong công ty. Tuy nhiên, đại bộ phận kế toán viên tại các doanh nghiệp Việt Nam là những người trực tiếp lập BCTC đều chưa được đào tạo và tiếp cận IFRS. Hầu như các trường đại học chưa triển khai việc đào tạo IFRS cho sinh viên dẫn đến tình trạng sinh viên khi ra trường chưa biết gì về IFRS. Ngoài ra, bản thân cơ quan thuế cũng như các cán bộ thuế cũng chưa nắm rõ về các chuẩn mực của IFRS nên khi làm theo IFRS thì chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán sẽ ngày càng khác biệt. Do vậy, vẫn còn xảy ra những tranh luận giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp khi các cơ quan này nhận được bộ BCTC theo IFRS từ phía các doanh nghiệp.

Qua khảo sát các doanh nghiệp Việt Nam, đại bộ phận kế toán viên đều chưa được đào tạo về IFRS nên sự sẵn sàng áp dụng IFRS còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp có tâm lý ngại thay đổi. Ông Chris Fabling, Chuyên gia cao cấp quản lý tài chính Ngân hàng Thế giới cho biết thêm, Việt Nam đối mặt với một số thách thức khi áp dụng và thực hiện IFRS như xây dựng năng lực cho nguồn nhân lực phụ trách về quản trị doanh nghiệp, chuẩn bị báo cáo tài chính, các kiểm toán viên, người sử dụng; nhu cầu cần phải thiết lập ngành nghề đánh giá độc lập để có thể tuân thủ với các chuẩn đánh giá cho mục đích báo cáo tài chính; cần phải nâng cấp hệ thống giáo dục tài chính kế toán; triển khai thực hiện hệ thống giám sát công mạnh mẽ.

          Như vậy, khi IFRS được áp dụng, Việt Nam phải chủ động chuẩn bị các nguồn lực để triển khai thực hiện mới có hiệu quả, nhưng trong nhiều yếu tố tác động đến việc thực thi, tôi cho rằng yếu tố con người là vô cùng quan trọng. Việc chuẩn bị một lực lượng lao động trẻ có kiến thức và kỹ năng vận dụng IFRS là nhiệm vụ của các trường đại học và cao đẳng có đào tạo ngành kế toán đang hoạt động tại Việt Nam. Từ trước đến nay, các môn học kế toán tài chính trong CTĐT ngành kế toán của các trường đại học phần lớn chỉ giảng dạy CMKT Việt Nam. Mặc dù VAS được soạn thảo trên nền tảng của CMKT quốc tế, nhưng khả năng hoà hợp quốc tế của VAS còn nhiều hạn chế. Vậy khi IFRS được phép áp dụng tại Việt Nam, các đơn vị đào tạo sẽ tiếp cận và triển khai để giới thiệu các khái niệm, nội dung IFRS trong CTĐT của ngành kế toán như thế nào cho hiệu quả.

Bên cạnh đó, chúng ta nhận thấy rằng các trường đại học (ĐH) có đào tạo kế toán ở Việt Nam hiện nay chia thành 2 khuynh hướng: cử nhân kế toán định hướng hàn lâm/nghiên cứu (ĐH Kinh tế quốc dân; ĐH Kinh tế TP.HCM,...) và cử nhân kế toán định hướng thực hành (ĐH Tài chính – Kế toán, ĐH Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp,...). Việc các trường lựa chọn định hướng đào tạo sẽ chi phối mạnh đến nhận thức, chủ trương, xác định mục tiêu, phương pháp tổ chức đào tạo và đặc biệt là chương trình đào tạo ngành kế toán. Do vậy, nó đã chi phối mạnh đến việc đào tạo kế toán quốc tế ở các trường ĐH trong thời gian qua.

 

3. Phương hướng nâng cao hiệu quả đào tạo kế toán trong thời kỳ hội nhập

Áp dụng IFRS là yêu cầu thực tế, gắn liền với xu thế hội tụ quốc tế. Đại bộ phận các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển đã và đang thực hiện vấn đề này và Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế chung của thế giới. Tuy nhiên, để áp dụng được IFRS vào kế toán ở các DN Việt Nam thì các cơ quan Nhà nước, các tổ chức nghề nghiệp, các cơ sở đào tạo mà chủ yếu là các trường đại học phải có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình nghiên cứu, ban hành, triển khai áp dụng IFRS cũng như đánh giá tình hình thực hiện IFRS trong giảng dạy và trong thực hành kế toán ở các DN.

          Với nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực kế toán, trong thời gian qua các trường Đại học và các Tổ chức nghề nghiệp kế toán đã có đóng góp to lớn cho sự phát triển của hoạt động kế toán Việt Nam. Tuy nhiên, một thực tế trong công tác đào tạo kế toán đó chính là chất lượng chưa cao. Bởi vậy, công tác đào tạo và bồi dưỡng nhân lực kế toán, kiểm toán của các trường Đại học và các Tổ chức nghề nghiệp ở Việt Nam cần có sự đổi mới, chuyển mình thật sự. Tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, có am hiểu sâu rộng về IFRS là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đến việc áp dụng IFRS vào thực tiễn ở Việt Nam trong những năm sắp tới. Từ đó, đặt ra yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, cập nhật kiến thức của các trường Đại học và các Tổ chức nghề nghiệp kế toán của Việt Nam.

Hiện tại, việc đào tạo kế toán cho bậc đại học ở tất cả các trường đại học tại Việt Nam đều dựa vào các quy định về kế toán do Bộ Tài chính ban hành, để giảng dạy, ngoại trừ một số lớp có giới thiệu tổng quát kế toán quốc tế. Điều này là hoàn toàn phù hợp với nhu cầu đào tạo nhân lực để phục vụ cho công tác kế toán trong thời gian qua, cũng như trong giai đoạn trướcmắt. Tuy nhiên, với mục tiêu áp dụng IFRS thì nội dung chương trình giảng dạy kế toán ở các trường đại học cần phải có thay đổi, điều chỉnh dần theo hướng giảng dạy IFRS kết hợp với các tình huống cụ thể theo yêu cầu của Việt Nam. Việc làm này sẽ giúp người học vừa tiếp cận được IFRS vừa am hiểu các quy trình kế toán ở Việt Nam, để có thể thực hiện kế toán phù hợp với môi trường thực tế sau khi ra trường và cũng như đặc điểm chuyển đổi theo IFRS, khi có các quy định bắt buộc phải ápdụng.

Theo nghiên cứu của Archana Patro (2012), kết quả khảo sát gần 1.000 sinh viên các trường đại học đã khẳng định tính cấp thiết của việc giới thiệu IFRS vào CTĐT ngành kế toán. Các trường đại học ở Ấn Độ cho rằng chìa khóa thành công của việc phổ biến IFRS chính là thu hút sự quan tâm của sinh viên vào các quyền lợi mà IFRS mang lại, như cơ hội nghề nghiệp, và nhấn mạnh vào các kỳ thi lấy chứng chỉ nghề nghiệp được công nhận. Vì vậy, các cơ sở đào tạo phải khẩn trương nâng cao nhận thức cho sinh viên về yêu cầu phát triển kế toán hướng về IFRS; từ đó giúp người học có tâm lý sẵn sàng chuẩn bị cho hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kế toán. Khi đó, sinh viên sẽ nâng cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu thì khả năng tiếp cận IFRS sẽ hiệuquả.

Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng, chính thái độ của người hướng dẫn và sự sẵn có của tài liệu có ảnh hưởng mạnh nhất tới thời gian giảng dạy IFRS của giáo viên. Vì thế, các cơ sở đào tạo phải xây dựng tài liệu giảng dạy một cách phù hợp. Tài liệu giảng dạy có thể sử dụng nội dung các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) bao gồm cả bản tiếng Anh và dịch ra tiếng Việt đồng thời xây dựng cả các tài liệu giảng dạy lý thuyết và thực hành kế toán. Các tài liệu cần được biên soạn dễ hiểu để đảm bảo người học và người dạy dễ tiếp cận. Các tài liệu về IFRS cần phải được đăng tải trên phương tiện  truyền thông đại chúng; cung cấp miễn phí cho người học. Đồng thời, các trường cần rà soát lại nội dung của từng môn học, học phần và hạn chế sự chồng chéo về nội dung các môn học, mục tiêu của mỗi môn học, học phần cần được xác định rõ ràng. Chương trình học nên có các nội dung cơ bản về: Các nguyên tắc cốt lõi của IFRS; Trình bày báo cáo tài chính; Tài sản; Kế toán đối với các khoản nợ phải trả; Giá trị hợp lý và các công cụ tài chính; Các vấn đề về kế toán trong các tập đoàn như báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo tài chính bộ phận… cũng như các vấn đề cụ thể trong từng Chuẩn mực kế toán và tình huống minh họa cho mỗi vấn đề. Chương trình học không nên thuần lý thuyết mà cần có sự tương tác với rất nhiều ví dụ tình huống thực tế cụ thể để người học thực sự hiểu được nội dung của các chuẩn mực và cách thức áp dụng để lập báo cáo tài chính doanh nghiệp theo IFRS với chất lượng cao.

Vấn đề quan trọng khác là cần nâng cao kiến thức và kinh nghiệm cho đội  ngũ giảng viên về IFRS. Giảng viên cần phải không ngừng rèn luyện và tích lũy kiến thức, đặc biệt là kiến thức về IFRS thông qua việc học tập và bồi dưỡng nâng cao trình độ; tích cực nghiên cứu IFRS và sáng tạo hơn trong giảng dạy; hướng người học phát triển cả kiến thức và kỹ năng, khả năng đánh giá và khả năng xử lý vấn đề. Đặc biệt, cần sớm có các nghiên cứu về các phương pháp giảng dạy IFRS, nguồn tài liệu giảng dạy, đánh giá sinh viên trong việc hiểu và vận dụngIFRS. Bên cạnh đó, giảng viên nên giúp sinh viên nhận thức việc hiểu biết kiến thức căn bản về khái niệm, chu tŕnh, phương pháp, nguyên tắc trong kế toán, cũng như khả năng giải thích bản chất các vấn đề quan trọng hơn là chỉ biết thực hiện theo các quy định cứng nhắc như cách dạy – học hiện nay. Muốn như vậy, giảng viên các trường phải áp dụng nhiều hình thức giảng dạy, trong đó quan trọng nhất là tổ chức hoạt động dạy học làm sao để đẩy thế chủ động về phía sinh viên, kết hợp đưa tình huống thực tế về kế toán vào giảng dạy.

Ngoài ra, các trường Đại học cần thường xuyên kết hợp với doanh nghiệp và các Hiệp hội nghề nghiệp để tạo ra môi trường trải nghiệm, nắm bắt thực tế cho sinh viên chuyên ngành  kế toán, kiểm toán. Các Hiệp hội nghề nghiệp cần có sự hỗ trợ đối với các trường đại học trong việc nghiên cứu về IFRS và xây dựng lộ trình giảng dạy hướng về IFRS thông qua việc tổ chức các lớp đào tạo cho các giảng viên các trường đại học, tổ chức các cuộc hội thảo về IFRS. Từ đó sẽ tiến tới nhân rộng việc giảng dạy IFRS cho các đối tượng khác nhau (sinh viên, doanh nghiệp, các nhà đầutư…). Chẳng hạn, CPA Australia có thể hỗ trợ trong việc phát triển các kỹ năng và năng lực cần có trong việc triển khai áp dụng IFRS. CPA Australia là một trong những tổ chức nghề nghiệp kế toán lớn nhất thế giới với số lượng hội viên lên đến hơn 155,000 và đang làm việc tại 118 quốc gia trên toàn thế giới, với hơn 25,000 hội viên làm việc ở các vị trí lãnh đạo cấp cao. CPA Australia cung cấp chứng chỉ chuyên môn cao cấp dựa trên các chuẩn đào tạo kế toán và thực hành tốt nhất được công nhận trên toàn cầu. Tiêu chuẩn chuyên môn này bao gồm chương trình Báo cáo tài chính hoàn toàn dựa trên IFRS. CPA Australia cũng có thể mở ra những cơ hội học tập trực tuyến để hỗ trợ phát triển những khả năng cần thiết và người học có thể truy cập ở bất cứ đâu bất cứ nơi nào. Bên cạnh chứng chỉ kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế, CPA Australia còn có những nghiên cứu chuyên sâu và rất nhiều sáng kiến mang tính đột phá về tư duy.

Để nâng cao nhận thức về xu thế hội tụ kế toán cũng như giúp Việt Nam xây dựng được lộ trình tiến tới vận dụng IFRS thì Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) cần tổ chức nhiều khóa huấn luyện cập nhật kiến thức về Chuẩn mực kế toán Việt Nam, về kinh nghiệm vận dụng IFRS trên quốc tế cũng như những vấn đề cần chuẩn bị để Việt Nam áp dụng IFRS cho các hội viên, cho các trường Đại học thông qua hội thảo, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ tài liệu, các công trình nghiên cứu hướng về IFRS. VAA cần tích cực hơn nữa trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện cho người  giảng dạy có cơ hội nhiều hơn trong việc nghiên cứu về IFRS thông qua các khóa đào tạo ngắn, tập huấn cho giảng viên các trường Đại học, tham gia tọa đàm và tổ chức các cuộc thi tìm hiểu IFRS cho sinh viên, tổ chức các chương trình hội thảo, cung cấp và hướng dẫn sử dụng tài liệu về IFRS, thông dịch các tài liệu IFRS tiếng nước ngoài ra tiếng Việt, cập nhật thường xuyên sự thay đổi củaIFRS.

Áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) trên thế giới đang ngày càng trở nên phổ biến. IFRS mang lại những lợi ích to lớn trong việc nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán, góp phần tạo ra ngôn ngữ kế toán mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, quá trình áp dụng IFRS của các quốc gia trên thế giới cũng gặp không ít khó khăn. Những khó khăn, thách thức ấy lại càng lớn hơn đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Chính vì thế, để thực hiện được quyết tâm, nỗ lực tiến tới vận dụng IFRS trong thời gian tới của Chính phủ Việt Nam, thì công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực kế toán cần phải có bước chuyển mình thật sự. Từ đó, đặt ra yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, cập nhật kiến thức của các trường Đại học và các Tổ chức nghề nghiệp kế toán của Việt Nam. Bài viết cũng đưa ra một số giải pháp cho các trường đại học Việt Nam để đưa IFRS vào CTĐT, trong đó việc thay đổi nhận thức của sinh viên, nâng cao trình độ cho giảng viên và thay đổi chương trình đào tạo phù hợp là biện pháp cốt lõi mà các trường nên chú trọng. Vấn đề con người thực sự rất phức tạp và cần nhiều thời gian cũng như tâm sức để hoàn thiện. Các trường đại học Việt Nam cũng phải cần nhiều sự giúp đỡ của Tổ chức nghề nghiệp kế toán của Việt Nam, các chuyên gia giàu kinh nghiệm trên thế giới trong quá trình đưa IFRS vào các trường đại học.

Tài liệu tham khảo

[1]     Alzeban, Abdulaziz (2016), “Factors influencing adoption of the international financial reporting standards (IFRS) in accounting education”, Journal of International Education in Business, vol.9 No. 1:2-16.

[2]     Archana, P., Gupta, V.K., (2012), Adoption of International Financial Reporting Standards (IFRS) in AccountingCurriculuminIndia-AnEmpiricalStudy,ProcediaEconomicsandFinance,227-236.

[3]     Hà Thị Ngọc Hà (2016), Kế toán Việt Nam trong điều kiện hội nhập TPP và AEC, Kỷ yếu hội thảo quốc gia– Đại học Kinh tế quốc dân

[4]     Quốc Hội (2015), Luật Kế toán Việt Nam, năm 2015.

[5]     Trần Mạnh Dũng & Nguyễn Thúy Hồng (2015), IFRS: 10 năm áp dụng và bình luận, Tạp chí Kế toán & Kiểm toán, 143:27-29.

[6]     Vũ Hữu Đức (2016), Năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực kế toán – nghiên cứu so sánh Singapore và Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc gia – Đại học Kinh tế quốcdân.