Đề án áp dụng IFRS tại Việt Nam

Ngày đăng: 08/06/2019 - Lượt xem: 312 (lần)
Ngày 18/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 480/QĐ- TTg phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030, theo đó yêu cầu Bộ Tài chính cập nhật, ban hành bổ sung chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam theo hướng phù hợp với các chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) và nghiên cứu phương án áp dụng IFRS tại Việt Nam.

Triển khai nhiệm vụ được giao, ngày 23/5/2017, Bộ Tài chính đã thành lập Ban Chỉ đạo và Ban soạn thảo “Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế vào Việt Nam”, trong quá trình soạn thảo Đề án, Bộ Tài chính đã tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng IFRS của một số các quốc gia trên thế giới, tiến hành khảo sát nhu cầu áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam, nghiên cứu sự khác biệt giữa IFRS với pháp luật của Việt Nam, đánh giá tác động của việc áp dụng IFRS đối với công tác quản lý Nhà nước và các mặt của nền kinh tế. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin giới thiệu phương án áp dụng IFRS (kèm theo toàn văn Dự thảo Đề án áp dụng IFRS) và dự thảo bản dịch Bộ thuật ngữ IFRS ra tiếng Việt (kèm theo).

1. Bối cảnh

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại, riêng biệt của từng quốc gia. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu đa dạng của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư, các quốc gia thường cho phép các doanh nghiệp lựa chọn Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc gia hoặc Chuẩn mực BCTC quốc tế khi lập và trình bày BCTC. Theo tài liệu của Ủy ban Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IASB), tính đến nay đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93% các nước được IASB khảo sát) đã tuyên bố về việc cho phép áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau.

Phương pháp áp dụng IFRS tại các quốc gia rất đa dạng, có quốc gia cho phép áp dụng cho cả BCTC riêng của doanh nghiệp và BCTC hợp nhất của tập đoàn, nhưng có quốc gia chỉ áp dụng IFRS cho BCTC hợp nhất. Với các nước chưa cho phép doanh nghiệp áp dụng IFRS thì cũng đang trong xu thế điều chỉnh hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc gia để phù hợp và tiệm cận gần hơn với IFRS. Việc cho phép áp dụng IFRS hay không tùy thuộc vào điều kiện phát triển và tình hình thực tế của từng quốc gia. Tuy nhiên định hướng chung là áp dụng IFRS cho các đơn vị có lợi ích công chúng, còn đối với các đơn vị không có lợi ích công chúng thì thường áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc gia hoặc có thể tự nguyện áp dụng IFRS.

  Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2005, Việt Nam đã ban hành 26 Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam (VAS) bằng cách vận dụng có chọn lọc các quy định của chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện nền kinh tế và trình độ quản lý trong nước. So với giai đoạn chưa có chuẩn mực, VAS được đánh giá là bước tiến lớn trong sự nghiệp cải cách kế toán tại Việt Nam, là viên gạch đầu tiên trong quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, góp phần nâng cao tính minh bạch, trung thực của BCTC. VAS tại thời điểm đó đã phản ánh được nhiều giao dịch của nền kinh tế thị trường non trẻ, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân trong giai đoạn đầu những năm 2000, giúp các doanh nghiệp và người làm công tác kế toán đã nâng cao nhận thức, thay đổi thói quen và tiếp cận dần với công tác kế toán của nền kinh tế thị trường phù hợp với thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, do đã được ban hành cách đây hơn 10 năm mà chưa được sửa đổi, bổ sung nên VAS ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, một số nội dung chưa phù hợp với các giao dịch của kinh tế thị trường trong giai đoạn mới, nhất là trong bối cảnh thị trường vốn phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều loại công cụ tài chính phức tạp. Hơn nữa, hiện nay Việt Nam mới ban hành được 26 VAS nên còn thiếu rất nhiều chuẩn mực so với thông lệ quốc tế như các chuẩn mực về nông nghiệp, về thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản, về nhóm công cụ tài chính phái sinh, về giá trị hợp lý, về tổn thất tài sản,… dẫn đến khi các doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch kinh tế thuộc nhóm các chuẩn mực này thì chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện hạch toán kế toán dẫn đến khó khăn cho công tác kế toán của doanh nghiệp.

  Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình cải cách hành chính và thể chế một cách mạnh mẽ, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên sôi động, nhu cầu các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết hoặc thu hút vốn trên thị trường nước ngoài ngày càng gia tăng. Đặc biệt thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài đến tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu quản lý của nền kinh tế trong giai đoạn mới, Chính phủ có chủ trương phải đẩy nhanh việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới cũng như công cuộc cải cách thể chế tại Việt Nam.

  Mặc dù Việt Nam đã ban hành 26 Chuẩn mực báo cáo tài chính (VAS), tuy nhiên do còn nhiều hạn chế và khác biệt với thông lệ quốc tế nên VAS chưa được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt chưa đáp ứng được yêu cầu của các định chế quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các quốc gia trên thế giới đang chuyển dần từ việc áp dụng Chuẩn mực quốc gia sang Chuẩn mực quốc tế để đảm bảo các doanh nghiệp có một tiếng nói chung phục vụ các nhà đầu tư trên phạm vi toàn cầu, vì vậy việc nghiên cứu, áp dụng IFRS sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn trên các khía cạnh.

2. Mục tiêu Đề án

2.1. Mục tiêu tổng quát

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tài chính, kế toán; tạo dựng công cụ quản lý hiệu lực, hiệu quả cho công tác quản trị, điều hành tại doanh nghiệp cũng như việc quản lý, giám sát của cơ quan chức năng Nhà nước trong giai đoạn mới, góp phần thực hiện thành công trong các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đẩt nước.

          Thúc đẩy sự hội nhập của nền kinh tế với khu vực và thế giới, góp phần nâng cao tính minh bạch của các thông tin tài chính hữu ích, nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp, bảo vệ môi trường kinh doanh, nhà đầu tư, góp phần tạo điều kiện để Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ, nâng hạng thị trường chứng khoán, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Xây dựng phương án, lộ trình, cách thức tổ chức thực hiện để áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) tại Việt Nam cho từng nhóm đối tượng cụ thể, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm mục đích nâng cao tính minh bạch, trung thực của BCTC, nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp đối với người sử dụng BCTC.

Ban hành mới hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam theo nguyên tắc tiếp thu tối đa những quy định phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam và nhu cầu của doanh nghiệp, đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện.

3. Phương án áp dụng IFRS tại Việt Nam

3.1. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng IFRS được xác định phù hợp với lộ trình được công bố, bao gồm tất cả các doanh nghiệp có nhu cầu và đủ khả năng áp dụng IFRS.

3.2. Lộ trình áp dụng

3.2.1. Giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết

Từ năm 2019 đến hết năm 2021, Bộ Tài chính chuẩn bị các điều kiện cần thiết triển khai thực hiện Đề án để đảm bảo hỗ trợ các doanh nghiệp bắt đầu áp dụng IFRS từ năm 2022, như:

- Công bố bản dịch IFRS ra tiếng Việt;

- Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng IFRS;

- Xây dựng cơ chế tài chính liên quan;

- Đào tạo nguồn nhân lực, quy trình triển khai cho các doanh nghiệp.

3.2.2. Giai đoạn 1 (Giai đoạn tự nguyện): Từ năm 2022 đến 2025:

a. Đối với báo cáo tài chính hợp nhất:

Một số doanh nghiệp từ nhóm các doanh nghiệp sau có nhu cầu và đủ nguồn lực tự nguyện được Bộ Tài chính lựa chọn thực hiện áp dụng IFRS để lập báo cáo tài chính hợp nhất:

- Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước quy mô lớn có các khoản vay được tài trợ bởi các định chế tài chính quốc tế;

- Công ty niêm yết;

- Công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ chưa niêm yết;

- Các công ty mẹ khác nhu cầu và đủ nguồn lực tự nguyện áp dụng IFRS.

b. Đối với báo cáo tài chính riêng:

- Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhu cầu và đủ nguồn lực tự nguyện được Bộ Tài chính lựa chọn áp dụng IFRS để lập báo cáo tài chính riêng.

- Khi áp dụng IFRS doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và giải trình rõ ràng, minh bạch với cơ quan thuế, cơ quan quản lý, giám sát về việc xác định nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước.

3.2.3. Giai đoạn 2 (Giai đoạn bắt buộc): Từ sau năm 2025

a. Đối với báo cáo tài chính hợp nhất:

- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện của giai đoạn 1, Bộ Tài chính căn cứ nhu cầu, khả năng sẵn sàng của các doanh nghiệp và tình hình thực tế để quy định thời điểm cụ thể bắt buộc áp dụng IFRS lập báo cáo tài chính hợp nhất cho từng đối tượng cụ thể thuộc nhóm các doanh nghiệp sau:

+ Các công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước;

+ Các công ty niêm yết;

+ Các công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ chưa niêm yết.

- Ngân hàng nhà nước quy định việc áp dụng IFRS lập báo cáo tài chính hợp nhất cho từng đối tượng cụ thể thuộc nhóm các ngân hàng thương mại.

- Các công ty mẹ khác không thuộc đối tượng bắt buộc nêu trên được khuyến khích tự nguyện áp dụng IFRS cho báo cáo tài chính hợp nhất.

b. Đối với báo cáo tài chính riêng:

- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện của giai đoạn 1, Bộ Tài chính căn cứ nhu cầu, khả năng sẵn sàng của các doanh nghiệp, cơ chế tài chính có liên quan và tình hình thực tế để quy định thời điểm cụ thể bắt buộc áp dụng IFRS lập báo cáo tài chính riêng cho từng nhóm các doanh nghiệp, đảm bảo tính hiệu quả và khả thi.

- Ngân hàng Nhà nước quy định việc áp dụng IFRS lập báo cáo tài chính riêng cho từng đối tượng cụ thể thuộc nhóm các ngân hàng thương mại.

- Khi áp dụng IFRS doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và giải trình rõ ràng, minh bạch với cơ quan thuế, cơ quan quản lý, giám sát về việc xác định nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước.

3.3. Phạm vi và cách thức áp dụng IFRS:

- Doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng IFRS phải áp dụng tất cả các IFRS đã có hiệu lực theo quy định của Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế tại cùng một thời điểm. Khi Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế có sự sửa đổi, bổ sung các IFRS thì Việt Nam sẽ áp dụng chậm nhất sau 3 năm kể từ thời điểm các sửa đổi, bổ sung  IFRS có hiệu lực.

- Doanh nghiệp tự nguyện hoặc bắt buộc áp dụng IFRS lập báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính riêng không phải lập báo cáo tài chính theo VAS, chỉ phải lập duy nhất một bộ báo cáo tài chính theo IFRS để công bố theo pháp luật Việt Nam.

4. Phương án áp dụng Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)

4.1. Đối tượng áp dụng

Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế hoạt động tại Việt Nam không thuộc đối tượng áp dụng IFRS đều thuộc đối tượng áp dụng VAS.

Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán riêng cho các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ không có nhu cầu và điều kiện áp dụng VAS.

4.2. Lộ trình, nguyên tắc ban hành VAS:

- Trước ngày 31/12/2024, Bộ Tài chính ban hành mới hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng phù hợp với IFRS, yêu cầu quản lý, điều hành của Việt Nam và nhu cầu của doanh nghiệp;

- Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được xây dựng dựa trên hệ thống IAS/IFRS theo nguyên tắc tiếp thu tối đa những quy định phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện;

- Bộ Tài chính thường xuyên rà soát lại VAS, cập nhật những thay đổi của IFRS để đảm bảo VAS phù hợp ở mức độ cao nhất với thông lệ quốc tế.

Quý vị quan tâm, vui lòng vào link bên dưới tải về tham khảo và tham gia đóng góp ý kiến với Cơ quan soạn thảo:

 

1. Dự thảo áp dụng IFRS tại Việt Nam (Ver.06.2019);

2. Bản dịch bộ thuật ngữ IFRS.