Định hướng đào tạo Kế toán tại Việt Nam trong quá trình hội nhập chuẩn mực lập báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS)

Ngày đăng: 23/07/2017 - Lượt xem: 854 (lần)
PGS. TS. Nguyễn Xuân Hưng, CPA Úc, Phó trưởng Khoa Kế toán trường Đại học Kinh Tế TP. HCM

TÓM TẮT

Trong xu thế hội nhập theo chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), Bộ Tài chính đang xây dựng lộ trình và định hướng cho Việt Nam trong việc áp dụng theo IFRS. Một khi khung pháp lý kế toán thay đổi, cần phải thay đổi năng lực của người làm kế toán theo sự thay đổi của khung pháp lý kế toán. Vì vậy, vai trò của đào tạo kế toán trong bối cảnh hội tụ theo IFRS là rất quan trọng để có thể nhanh chóng xây dựng nguồn nhân lực kế toán phù hợp với sự đổi mới. Bài viết đi vào việc phân tích thực trạng giảng dạy IAS/IFRS lấy từ thực tiễn Khoa Kế toán trường đại học Kinh Tế TP.HCM, đồng thời so sánh nội dung đào tạo theo IAS/IFRS giữa các trường đại học cũng như giữa trường đại học với các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế. Qua đó, tác giả nhận thấy một số chuẩn mực cơ bản của IAS/IFRS đã được đưa vào giảng dạy ở bậc cử nhân tại nhiều trường đại học khu vực phía Nam trong nhiều năm qua nên việc giảng dạy theo IFRS không thực sự quá khó khăn đối với các cơ sở đào tạo. Theo đó, tác giả cũng đề xuất một số định hướng đào tạo kế toán trong bối cảnh hội nhập theo IAS/IFRS dưới vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức nghề nghiệp và các cơ sở đào tạo.

Từ khoá: IFRS, IAS, kế toán quốc tế, đào tạo kế toán theo nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, hội tụ kế toán.

 

1. Đặt vấn đề

Toàn cầu hoá thúc đẩy sự hội tụ và giảm thiểu sự khác biệt trong nhiều khía cạnh, trong đó có sự hội tụ của chuẩn mực kế toán, kiểm toán để tạo nên một khuôn khổ pháp lý kế toán, kiểm toán thống nhất trên thế giới. Đồng thời, quá trình này cũng kéo theo sự hội tụ trong lĩnh vực đào tạo nói chung và đào tạo kế toán nói riêng (Karreman, Ahern Jr, Kuijl, & Marrian, 2007). Điều này thể hiện rõ nhất trong tình huống của Úc, Romania, Nhật, khi chuyển sang áp dụng IFRS, đã tác động nhiều đến quan điểm trong đào tạo kế toán tại các quốc gia này (Jackling, Howieson, & Natoli, 2012).

Trong giai đoạn hiện nay, có 131 quốc gia trên thế giới (theo thống kê của IFRS Foundation, 2016) đã thực hiện theo chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), trong đó có quốc gia đã áp dụng toàn bộ, cũng có quốc gia áp dụng từng phần hoặc chỉ mới bắt đầu áp dụng. Ngay cả Hoa Kỳ, quốc gia có truyền thống áp dụng riêng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận (US-GAAP) cũng đang trong quá trình hợp nhất US-GAAP và IFRS, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung này. Theo đó, Bộ Tài chính đang xây dựng lộ trình và định hướng cho Việt Nam trong việc áp dụng theo IFRS. Mặc dù, có hai quan điểm về việc hoàn thiện và phát triển chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam nhưng đều đi đến thống nhất tiếp tục hoàn thiện và phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam theo hướng của chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế, tuy nhiên sự khác biệt là Việt Nam đang đắn đo có nên tuyên bố công nhận và tuân thủ hoàn toàn IFRS hay không. Cho dù chuẩn mực kế toán Việt Nam đi theo quan điểm tuyên bố tuân thủ toàn bộ IFRS hay tuyên bố không tuân thủ toàn bộ IFRS, nhưng sự thay đổi trong định hướng xây dựng khuôn khổ pháp lý kế toán tại Việt Nam sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đào tạo kế toán tại Việt Nam. Có thể thấy rõ, sự thay đổi này dẫn đến phải đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho giảng viên, xây dựng giáo trình và tài liệu giảng dạy mới... Tuy nhiên, một khi quá trình đào tạo kế toán tại Việt Nam thay đổi theo hướng hội nhập với IFRS, sẽ nâng cao sức cạnh tranh của lực lượng lao động kế toán Việt Nam. Họ có cơ hội tìm kiếm việc làm ở các quốc gia phát triển như Singapore, Malaysia, Nhật,... hay cạnh tranh với lao động nước ngoài tại chính thị trường lao động Việt Nam ngày trở nên khó khăn hơn khi xu hướng đòi hỏi phải có sự hiểu biết về IFRS.

Lược khảo giai đoạn đầu từ năm 2009 đến 2013, khi Hoa Kỳ bắt đầu chuẩn bị hội tụ theo IFRS, có rất nhiều nghiên cứu xác định sự chung tay, góp sức của ba tổ chức: (1) cơ quan quản lý nhà nước, (2) tổ chức nghề nghiệp và (3) cơ sở đào tạo (Bui & Porter, 2010; Jones, Vedd, & Yoon, 2009). Tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Việt Nam trong quá trình bắt đầu hội tụ theo IFRS phải phát huy vai trò của ba tổ chức này. Cơ quan quản lý nhà nước là tổ chức chịu trách nhiệm chính về cơ sở pháp lý IFRS áp dụng tại Việt Nam. Tổ chức nghề nghiệp và cơ sở đào tạo phụ trách chính về việc cập nhật sự thay đổi của IFRS và phát triển nguồn nhân lực được đào tạo IFRS. Trong bài viết này, tác giả đi sâu phân tích vai trò của các cơ sở đào tạo, cụ thể là các trường đại học Việt Nam nên định hướng thay đổi như thế nào về đào tạo kế toán để đáp ứng với quá trình hội tụ theo IFRS.       

2. Thay đổi quan điểm đào tạo kế toán từ khuynh hướng quy định cụ thể sang khuynh hướng dựa vào nguyên tắc

   Trong 5 năm gần đây, đào tạo kế toán tại các trường đại học Việt Nam đã có nhiều đổi mới, đi vào phân tích chuẩn mực, nguyên tắc kế toán, giảm rất nhiều hiện trạng dạy và học theo hướng định khoản Nợ - Có. Tuy nhiên, người làm kế toán tại Việt Nam phần lớn dựa vào các quy định cụ thể trong các Thông tư do Bộ Tài Chính ban hành. Do đó, mặc dù có những cải tiến tích cực, nhưng các trường đại học hiện nay vẫn phải tiếp cận giảng dạy kế toán theo hướng đi vào các quy định cụ thể (rules-based) để đáp ứng nhu cầu làm việc thực tiễn. Nếu khung pháp lý kế toán theo hướng chuẩn mực kế toán dựa trên các nguyên tắc (principle-based) hay chuẩn mực kế toán dựa trên các quy định cụ thể, cả hai đều có ảnh hưởng đáng kể đến đào tạo kế toán. Nếu áp dụng chuẩn mực kế toán dựa trên các quy định cụ thể thường nhấn mạnh vào việc ghi sổ kế toán, học thuộc các quy định và khi các quy định thay đổi thì cả người dạy và người học lại phải thay đổi và cập nhật. Việc giảng dạy một hệ thống các quy tắc chi tiết có thể tạo ra sự thoải mái, dễ dàng cho cả người dạy và người học. Về phía người dạy, các quy định kế toán được cho là khá dễ hiểu, dễ giải thích và dễ truyền đạt nội dung cho người học. Về phía người học, cách tiếp cận này cũng đơn giản chỉ cần ghi nhớ và thực hiện các quy định này. Bên cạnh những ưu điểm này, việc áp dụng giảng dạy và học tập theo chuẩn mực kế toán dựa trên các quy định cũng tạo ra nhiều hạn chế. Thứ nhất, có sự quan ngại về nghề nghiệp kế toán sẽ không hấp dẫn thu hút những nhân lực ưu tú, cũng như chương trình giảng dạy chủ yếu dựa trên học thuộc sẽ không phù hợp trong cả giáo dục đại học lẫn nghề nghiệp. Một khi quá nhấn mạnh vào học thuộc và không dựa vào nghiên cứu để hiểu rõ về bản chất, gây cho người học khó khăn trong việc xử lý các tình huống khi mà các quy định không được giảng dạy hoặc không được ban hành rõ ràng.

Trong xu thế IFRS được thiết kế theo khuynh hướng nguyên tắc thay vì đi vào các quy định cụ thể, khi các chuẩn mực kế toán Việt Nam tiến tới hội tụ theo IFRS, thì việc giảng dạy kế toán dựa trên các quy định, hướng dẫn cụ thể theo tư duy của một người ghi sổ kế toán (bookkeeper) sẽ không còn phù hợp. Các chuẩn mực kế toán theo khuynh hướng nguyên tắc cho phép người lập báo cáo vận dụng phù hợp trong những hoàn cảnh cụ thể phát sinh tại doanh nghiệp, dựa trên bản chất hơn là các tiêu chuẩn cụ thể về số lượng. Tuy nhiên, khuynh hướng nguyên tắc đòi hỏi cao về năng lực của người lập báo cáo tài chính trong quá trình xét đoán nghề nghiệp. Theo đó, người dạy kế toán phải thay đổi cách thức giảng dạy kế toán theo phương pháp dựa trên các nguyên tắc, tăng khả năng phán xét, đánh giá nghề nghiệp. Các giảng viên tham gia đào tạo, cần tập trung giảng dạy các khái niệm cơ bản thay vì các quy định cụ thể, giúp cho người học có khả năng phát hiện và tự tìm ra các giải pháp xử lý tình huống mà không phải thông qua việc học thuộc lòng các quy định và bút toán hạch toán kế toán cụ thể. Như vậy, nhất thiết phải thay đổi phương pháp kiểm tra và đánh giá theo hướng suy luận bản chất của vấn đề, kiểm tra khả năng xét đoán của một người hành nghề kế toán chứ không phải là kiểm tra việc định khoản kế toán. Mặt khác trong giảng dạy cần khơi dậy sự sáng tạo của người học và khuyến khích người học đưa ra quan điểm xử lý.

Ngoài ra, với mục tiêu người học vận dụng được IFRS vào thực tiễn, quan điểm giảng dạy kế toán ở các trường đại học ngoài phải thay đổi theo phương pháp dựa trên nguyên tắc, cần điều chỉnh dần giảng dạy IFRS kết hợp với các tình huống cụ thể theo yêu cầu của Việt Nam. Việc làm này, một mặt sẽ giúp người học vừa tiếp cận được IFRS, vừa am hiểu các quy trình kế toán ở Việt Nam, để có thể thực hiện kế toán phù hợp với môi trường thực tế sau khi ra trường và khi có các quy định bắt buộc phải áp dụng.   

3. Thực trạng giảng dạy IAS/IFRS – kinh nghiệm từ Khoa Kế Toán trường Đại học Kinh Tế TP.HCM

Bên cạnh môn học “Kế toán tài chính” được giảng dạy theo thông tư, chuẩn mực kế toán Việt Nam, Khoa Kế toán trường Đại học Kinh Tế TP.HCM tiên phong đưa môn học “Kế toán quốc tế” với nội dung học theo các chuẩn mực IAS/IFRS trong chương trình đào tạo kế toán, kiểm toán, bắt đầu từ năm 2013.

Bảng 1 so sánh nội dung môn học “Kế toán quốc tế” của Khoa Kế toán với các chương trình đào tạo ACCA, CIMA về IFRS, có những điểm tương đồng và khác biệt.  Tuy nhiên, sự khác biệt là không nhiều. Về cơ bản, chương trình môn học “Kế toán quốc tế” của Khoa Kế toán trường ĐH Kinh Tế TP.HCM gần như bao phủ các chủ đề phổ biến được giảng dạy trong các chương trình đào tạo quốc tế như ACCA và CIMA, chỉ không bao gồm một vài nội dung ít áp dụng tại Việt Nam như: “Lợi ích nhân viên, thanh toán bằng cổ phần, kế toán cho nông nghiệp và khai khoáng...”. Nếu xét trong toàn bộ tổng thể 17 IFRS và 25 IAS, chương trình kế toán quốc tế của Khoa Kế toán đã đưa vào giảng dạy 29 chuẩn mực IAS/IFRS, chiếm tỷ lệ 59,5% nội dung của IAS/IFRS. Các nội dung IAS/IFRS mang vào giảng dạy trong môn học kế toán quốc tế đã được các giảng viên trường đại học Kinh tế TP.HCM biên dịch và việt hoá, với mục đích cho sinh viên dễ dàng nắm bắt nội dung của chuẩn mực đối với những đối tượng còn hạn chế về mặt ngôn ngữ. Đối với những sinh viên đủ năng lực tiếng Anh, giảng viên khuyến khích sinh viên đọc hiểu nội dung chuẩn mực IAS/IFRS bằng tiếng Anh.

Bảng 1. So sánh giữa môn học “Kế toán quốc tế” của Khoa Kế toán UEH – Diploma IFRS của ACCA và môn “Quản lý tài chính” của CIMA

Nội dung đào tạo

Khoa Kế toán trường ĐH Kinh Tế TP.HCM (5 tín chỉ)

Chứng chỉ Diploma về IFRS của ACCA

Chương trình đào tạo của CIMA

Giới thiệu về định chế và khuôn mẫu lý thuyết

 

 

 

Giới thiệu về IASB

Y

Y

Y

Khuôn mẫu lý thuyết

Y

Y

Y

Các chuẩn mực về các yếu tố báo cáo tài chính

 

 

 

Doanh thu

Y

Y

Y

Bất động sản, nhà máy, thiết bị và bất động sản đầu tư (IAS 16, 40)

Y

Y

Y

Tổn thất tài sản

Y

Y

Y

Tài sản vô hình và lợi thế thương mại

Y

Y

Y

Tài sản đi thuê

Y

Y

Y

Tài sản dài hạn nắm giữ để bán và ngừng hoạt động

Y

Y

Y

Hàng tồn kho

Y

Y

Y

Công cụ tài chính (IFRS 7, 9 và IAS 32)

Y

Y

Y

Dự phòng, tài sản tiềm tàng và nợ tiềm tàng

Y

Y

Y

Lợi ích của nhân viên trong thời gian làm việc và sau khi nghỉ việc

N

Y

Y

Kế toán thuế

Y

Y

Y

Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá hối đoái

Y

Y

Y

Kế toán cho nông nghiệp

N

Y

N

Thanh toán bằng cổ phần

N

Y

Y

Hoạt động thăm dò và đánh giá khai khoáng

N

Y

N

Đo lường giá trị hợp lý

Y

Y

Y

Trình bày và công bố thông tin bổ sung

 

 

 

Trình bày báo cáo tình hình tài chính, báo cáo lãi lỗ và thu nhập tổng hợp khác

Y

Y

Y

Lợi nhuận mỗi cổ phiếu

N

Y

Y

Sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ

Y

Y

Y

Chính sách kế toán, sự thay đổi trong ước tính kế toán và sai sót

Y

Y

Y

Thông tin các bên liên quan

Y

Y

Y

Báo cáo bộ phận

N

Y

Y

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Y

Y

Y

Yêu cầu lập báo cáo tài chính cho các SME

N

Y

N

Chuẩn bị BCTC cho các công ty hợp nhất, liên kết, liên doanh

 

 

 

Lập báo cáo bên ngoài trong trường hợp hợp nhất kinh doanh (IFRS 3, 12, IAS 27)

Y

Y

Y

Hợp nhất kinh doanh – giao dịch nội bộ (IFRS 10)

Y

Y

Y

Hợp nhất kinh doanh – điều chỉnh theo giá trị hợp lý

Y

Y

Y

Lập báo cáo bên ngoài trong trường hợp đầu tư vào công ty liên kết, cơ sở liên doanh đồng kiểm soát (IFRS 11, IAS 28)

Y

Y

Y

Y: Có trong chương trình giảng dạy; N: Không có trong chương trình giảng dạy

 

 

 

Hiện tại, các trường đại học khác thuộc khối ngành kinh tế đều đưa môn học Kế toán quốc tế vào giảng dạy cho sinh viên năm thứ 3 và sinh viên năm thứ 4. Điều kiện tiên quyết để học học phần Kế toán quốc tế là sinh viên phải hoàn thành các học phần về Kế toán tài chính. Qua nghiên cứu chương trình học phần Kế toán quốc tế tại các Trường đại học, một số trường đang giảng dạy học phần Kế toán quốc tế theo trường phái kế toán lớn trên thế giới là kế toán Mỹ (trường phái Anglo - Saxon), như Khoa Kế toán Đại học Kinh Tế - Luật với môn Kế toán quốc tế học phần 1, môn kế toán quốc tế căn bản của đại học Tài chính – Marketing TP.HCM, môn kế toán quốc tế của các trường đại học thuộc khu vực phía Bắc như Viện kế toán kiểm toán trường đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội, Khoa Kế toán thuộc Học viện Tài chính,... Bên cạnh đó, một số trường đã giảng dạy học phần Kế toán quốc tế dưới dạng các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS. Tuy nhiên, mức độ tiếp cận và nội dung giảng dạy của các trường có sự khác biệt.

Bảng 2 so sánh nội dung môn học “Kế toán quốc tế” giữa trường Đại học Kinh Tế TP.HCM với các trường đại học khác như Đại học Kinh Tế - Luật TP.HCM, Đại học Mở, Đại học Tài chính – Marketing, Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội.

Bảng 2. So sánh nội dung học IAS/IFRS giữa các trường đại học Việt Nam

Nội dung đào tạo

ĐH Kinh Tế TP.HCM (Kế toán quốc tế I, II - 5 tín chỉ)

ĐH Kinh Tế - Luật (Kế toán quốc tế II - 3 tín chỉ)

Đại học Mở TP.HCM (Kế toán quốc tế I, II - 6 tín chỉ)

Đại học Tài chính – Marketing (Lập báo cáo tài chính quốc tế - 3 tín chỉ)

Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội (Các vấn đề trong kế toán hiện đại - 3 tín chỉ)

Giới thiệu về định chế và khuôn mẫu lý thuyết

 

 

 

 

 

Giới thiệu về IASB

Y

Y

Y

Y

N

Khuôn mẫu lý thuyết

Y

Y

Y

Y

N

Các chuẩn mực về các yếu tố báo cáo tài chính

 

 

 

 

 

Doanh thu

Y

Y

Y

N

N

Bất động sản, nhà máy, thiết bị và bất động sản đầu tư

Y

Y

Y

Y

N

Tổn thất tài sản

Y

Y

N

Y

N

Tài sản vô hình và lợi thế thương mại

Y

Y

N

Y

N

Tài sản đi thuê

Y

N

Y

N

N

Tài sản dài hạn nắm giữ để bán và ngừng hoạt động

Y

Y

N

N

N

Hàng tồn kho

Y

Y

Y

Y

N

Công cụ tài chính

Y

N

N

N

Y

Dự phòng, tài sản tiềm tàng và nợ tiềm tàng

Y

Y

N

N

N

Kế toán thuế

Y

Y

Y

Y

N

Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá hối đoái

Y

Y

Y

Y

N

Đo lường giá trị hợp lý

Y

N

N

N

N

Trình bày và công bố thông tin bổ sung

 

 

 

 

 

Trình bày báo cáo tình hình tài chính, báo cáo lãi lỗ và thu nhập tổng hợp khác

Y

Y

Y

Y

N

Sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ

Y

Y

Y

N

N

Chính sách kế toán, sự thay đổi trong ước tính kế toán và sai sót

Y

Y

Y

Y

N

Thông tin các bên liên quan

Y

N

Y

N

N

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Y

Y

Y

Y

N

Chuẩn bị BCTC cho các công ty hợp nhất, liên kết, liên doanh

 

 

 

 

 

Lập báo cáo bên ngoài trong trường hợp hợp nhất kinh doanh

Y

Y

Y

Y

N

Hợp nhất kinh doanh – giao dịch nội bộ

Y

N

Y

Y

N

Hợp nhất kinh doanh – điều chỉnh theo giá trị hợp lý

Y

N

Y

Y

N

Lập báo cáo bên ngoài trong trường hợp đầu tư vào công ty liên kết, cơ sở liên doanh đồng kiểm soát

Y

Y

N

Y

N

Y: Có trong chương trình giảng dạy; N: Không có trong chương trình giảng dạy

 

Qua kết quả khảo sát chương trình môn học kế toán quốc tế tại một vài trường đại học, tác giả nhận thấy các chuẩn mực IAS/IFRS được đưa vào giảng dạy một cách phổ biến gồm có: Khuôn mẫu lý thuyết; hàng tồn kho; bất động sản, nhà máy, thiết bị; tài sản vô hình; kế toán thuế; ảnh hưởng của chênh lệch tỷ giá hối đoái; sự thay đổi trong chính sách kế toán, ước tính kế toán và sai sót; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và một phần của vấn đề kế toán trong hợp nhất, liên kết, liên doanh.

Tác giả đã khảo sát 10 bài viết bàn luận về vấn đề đào tạo kế toán tại Việt Nam theo hướng hội nhập IFRS của các tác giả: Vo and Nguyễn (2016); Đàm (2016); Trần, Phạm, and Nguyễn (2014); N. H. Nguyễn (2014); Mai (2016); N. L. Nguyễn and Nguyễn (2016); Phan (2017); T. P. T. Nguyễn (2016); Lê and Hoàng (2016); T. M. H. Nguyễn (2016). Qua tổng hợp ý kiến của các bài viết, tác giả nhận thấy họ đã nêu ra những khó khăn sau đây trong quá trình đưa IAS/IFRS vào giảng dạy tại bậc cử nhân kế toán, bao gồm:

1.    Mặc dù một số trường đại học đã đưa IAS/IFRS vào giảng dạy ở bậc cử nhân, tuy nhiên do khung pháp lý kế toán Việt Nam vẫn chú trọng nhiều vào các quy định cụ thể trong khi IAS/IFRS theo khuynh hướng kế toán dựa trên nguyên tắc nên các trường đại học vẫn phải giảng dạy theo tinh thần hướng dẫn các quy định cụ thể để sinh viên có thể đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong công việc.

2.    Cơ chế chính sách còn chưa hoàn thiện, do vậy một số kỹ thuật đặc biệt của IFRS còn chưa có căn cứ pháp lý để thực hiện, ví dụ việc ghi nhận tổn thất tài sản, việc ghi nhận giá trị hợp lý của một số tài sản tài chính, bất động sản đầu tư hoặc tài sản sinh học đều chưa được hướng dẫn. Cho dù IAS/IFRS có đưa vào giảng dạy, nhưng do môi trường pháp lý chưa hoàn thiện nên người dạy sẽ gặp khó khăn trong quá trình giải thích các nguyên tắc của chuẩn mực IAS/IFRS sẽ áp dụng như thế nào tại Việt Nam, cũng như người học chưa thấy được sự hữu ích khi học về IAS/IFRS nên thái độ tiếp thu còn thờ ơ, học theo kiểu đối phó. 

3.    Hiểu biết và kinh nghiệm của các giảng viên Việt Nam về IAS/IFRS vẫn còn rất hạn chế, đây được coi là một trong những thách thức lớn. Cho đến nay, việc hiểu biết và vận dụng chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, chưa nói đến về kiến thức và kinh nghiệm về IAS/IFRS.

4.    Thiếu cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Vì thế, các giảng viên khó tiếp cận với thực tiễn để hiểu rõ các nguyên tắc của IAS/IFRS được vận dụng như thế nào tại Việt Nam, cần có những điều chỉnh hợp lý nào. Từ kiến thức thực tiễn, giảng viên sẽ mang vào nội dung bài giảng để nó phong phú và có tính thực tế cao. 

5.    IAS/IFRS thường xuyên cập nhật, thay đổi, kéo theo các giảng viên phải liên tục cập nhật kiến thức và bài giảng cho phù hợp với sự thay đổi của IAS/IFRS.

6.    Khó khăn về rào cản ngôn ngữ. IAS/IFRS được biên soạn bằng tiếng Anh; trong khi đó khả năng đọc, hiểu bằng ngôn ngữ này của sinh viên và giảng viên Việt Nam còn hết sức hạn chế.

7.    Chi phí tài liệu để học, nghiên cứu IAS/IFRS còn khá tốn kém đối với điều kiện kinh tế của sinh viên Việt Nam nếu sinh viên phải sử dụng tài liệu bản quyền từ tổ chức biên soạn chuẩn mực IAS/IFRS. 

Mặc dù các tác giả đã nêu lên nhiều khó khăn trong quá trình giảng dạy kế toán theo hướng hội tụ IAS/IFRS, qua kinh nghiệm giảng dạy IAS/IFRS tại trường đại học Kinh Tế TP.HCM, rất nhiều hạn chế có thể khắc phục nhanh chóng theo sự tiến bộ của xã hội như rào cản về ngôn ngữ, chi phí đào tạo quá cao, phải cập nhật thường xuyên sự thay đổi của IAS/IFRS. Trong những khó khăn này, hai thử thách chính cần quan tâm trong quá trình giảng dạy theo IAS/IFRS, đó là: cơ chế chính sách về khung pháp lý kế toán còn chưa rõ ràng, thống nhất, cùng với kinh nghiệm và sự hiểu biết của giảng viên Việt Nam về IAS/IFRS còn nhiều hạn chế. Vì vậy, trong giai đoạn đầu quá trình hội tụ theo IAS/IFRS, cần phải định hướng giải quyết hai khó khăn cơ bản này để thúc đẩy sự phát triển trong đào tạo kế toán tại Việt Nam.

4. Định hướng đào tạo kế toán Việt Nam trong bối cảnh hội tụ IAS/IFRS

Các trường đại học có đào tạo kế toán không thể đứng ngoài xu hướng hội nhập mà cần thiết phải là lực lượng nòng cốt đi đầu trong quá trình đào tạo và áp dụng IFRS. Theo quan điểm của tác giả, quá trình này cần được thực hiện một cách đồng bộ trong tất cả hệ thống đào tạo ngành kế toán. Trong lộ trình chuyển đổi sang đào tạo theo IAS/IFRS, các cơ quan chức năng có liên quan cần phải định hướng rõ các quan điểm, công việc cụ thể có tính chất quan trọng sau đây:

ü  Về phía các cơ quan quản lý nhà nước, nếu đã chấp nhận hội tụ theo IAS/IFRS, đồng nghĩa chấp nhận quan điểm xây dựng khung pháp lý kế toán theo khuynh hướng nguyên tắc, không đi theo hướng các quy định cụ thể. Một khi khung pháp lý kế toán theo khuynh hướng nguyên tắc, tất nhiên các trường đại học sẽ thay đổi phương pháp giảng dạy kế toán theo khuynh hướng phân tích các nguyên tắc trên tinh thần của IAS/IFRS để người học có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn một cách hữu ích sau khi tốt nghiệp. Trong tình huống, nếu cơ quan quản lý nhà nước vẫn soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam hội tụ theo IAS/IFRS nhưng khi vận dụng thực tế vẫn ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể, theo đó, phương pháp giảng dạy kế toán sẽ không thay đổi, vẫn giảng dạy dựa trên các quy định cụ thể như cách tiếp cận truyền thống trước đây để đảm bảo người học có thể giải quyết nhu cầu công việc trong thực tiễn. Điều này sẽ vi phạm tinh thần kế toán theo hướng nguyên tắc của IAS/IFRS là để người hành nghề chủ động xét đoán trong tình huống cụ thể.

ü  Về phía các tổ chức nghề nghiệp, công tác hướng dẫn sử dụng IFRS từ các Tổ chức nghề nghiệp kế toán đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hội nhập với IFRS. Cùng với sự phát triển của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, Việt Nam đã hình thành các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, bên cạnh đó, cũng có các văn phòng đại diện của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như: Hội Kế toán công chứng Anh quốc, Hội Kế toán viên công chứng Úc, Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales... Hiện nay, các tổ chức nghề nghiệp như ACCA đã có chương trình đào tạo IFRS nhưng chưa phát triển rộng khắp, các chương trình đào tạo với số lượng học viên còn mỏng, hoặc những học viên tham gia học và thi các chứng chỉ nghề nghiệp mới có cơ hội đào tạo nhiều IAS/IFRS. Các tổ chức nghề nghiệp cần có sự phổ biến tích cực và hỗ trợ hướng dẫn thường xuyên IAS/IFRS, đồng thời phối hợp với các công ty kế toán, kiểm toán quốc tế như KPMG, PWC, E&Y và Deloitte để có sự hỗ trợ đối với các trường đại học trong việc nghiên cứu về IAS/IFRS cũng như xây dựng lộ trình giảng dạy hướng về IAS/IFRS, thông qua việc tổ chức các lớp đào tạo cho các giảng viên các trường đại học, tổ chức các cuộc hội thảo về IAS/IFRS.

ü  Về phía các cơ sở đào tạo, theo như phân tích ở mục 3, các cơ sở đào tạo không gặp phải quá nhiều khó khăn trong vấn đề giảng dạy theo chuẩn mực IAS/IFRS. Khó khăn lớn nhất vẫn là làm sao giúp giảng viên cập nhật thường xuyên những thay đổi của IAS/IFRS và hiểu rõ tinh thần của Uỷ ban lập pháp khi họ xây dựng các chuẩn mực IAS/IFRS, để bài giảng phân tích đúng và có chiều sâu các nguyên tắc trong chuẩn mực. Trong giai đoạn hiện tại, các trường đại học cần rà soát lại môn học “kế toán quốc tế”, nên chuyển sang trình bày chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS cũng như cần phải cải tiến phương pháp giảng dạy kế toán. Theo xu hướng giảng dạy trước đây, phần lớn các giáo trình được viết dựa trên tinh thần của chế độ kế toán, hướng dẫn kỹ thuật ghi chép kế toán nên hạn chế khả năng suy luận, nghiên cứu của sinh viên. Với chuẩn mực kế toán lập báo cáo tài chính quốc tế thường xuyên thay đổi, vì vậy yêu cầu sinh viên phải đọc và hiểu các chuẩn mực để vận dụng là cần thiết. Các khoa kế toán chuyên ngành nên cân nhắc thay đổi các giáo trình kế toán, trong đó lấy IAS/IFRS là nền tảng, tăng cường bài giải tình huống cho sinh viên tự học. Về phía giảng viên, họ phải luôn được cập nhật sự thay đổi của IAS/IFRS, có như vậy sinh viên mới được cập nhật và có thể vận dụng IAS/IFRS khi ra trường làm việc.

5. Kết luận

Áp dụng IAS/IFRS là yêu cầu thực tế gắn liền với xu thế hội tụ quốc tế. Đại bộ phận các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển đã và đang thực hiện vấn đề này và Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung của thế giới. Tuy nhiên, để quá trình áp dụng IAS/IFRS được thành công, cần chú trọng đến đào tạo IAS/IFRS tại các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao năng lực của nguồn nhân lực kế toán trong giai đoạn đổi mới.

Đào tạo kế toán theo xu hướng hội nhập quốc tế cần có sự tham gia đồng bộ giữa cơ quản lý nhà nước, tổ chức nghề nghiệp và cơ sở đào tạo. Theo kết quả nghiên cứu nói trên, Bộ Tài chính sẽ không còn quan ngại về vấn đề đào tạo IAS/IFRS vì nhiều trường đại học tại Việt Nam đã có kinh nghiệm đào tạo cơ bản IFRS trong thời gian qua. Tuy nhiên, cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng theo tinh thần của chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế để tạo thuận lợi trong đào tạo kế toán theo xu hướng hội tụ IAS/IFRS. Cơ sở pháp lý như thế nào sẽ ảnh hưởng đến thực tiễn thực hành kế toán, theo đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình đào tạo kế toán tại Việt Nam. Các tổ chức nghề nghiệp đóng vai trò trung gian tích cực hỗ trợ đội ngũ đào tạo trong quá trình cập nhật nội dung và xây dựng kinh nghiệm giảng dạy theo IAS/IFRS. Đồng thời, các cơ sở đào tạo nhanh chóng rà soát lại nội dung đào tạo kế toán tài chính cho phù hợp với sự thay đổi của khung pháp lý kế toán tại Việt Nam. Như vậy đầu tư cho đội ngũ giảng viên kế toán là một giải pháp tối ưu cho các cơ sở đào tạo kế toán một khi đứng trước thách thức về sự đổi mới, hội nhập quốc tế về đào tạo kế toán.

 

Tài liệu tham khảo

[1]          Bui, B., & Porter, B. (2010). The expectation-performance gap in accounting education: an exploratory study. Accounting Education: an international journal, 19(1-2), 23-50.

[2]          Đàm, T. B. H. (2016). Sự cần thiết áp dụng và đào tạo IFRS tại Việt Nam Paper presented at the IFRS - Cơ hội và thách thức khi áp dụng tại Việt Nam, TP. HCM.

[3]          Jackling, B., Howieson, B., & Natoli, R. (2012). Some implications of IFRS adoption for accounting education. Australian Accounting Review, 22(4), 331-340.

[4]          Jones, C. G., Vedd, R., & Yoon, S. W. (2009). Employer expectations of accounting undergraduates' entry-level knowledge and skills in global financial reporting. American Journal of Business Education, 2(8), 85.

[5]          Karreman, G. H., Ahern Jr, J., Kuijl, J., & Marrian, I. (2007). GAE 2007, trends in global accounting education. JT Ahern, Jr., JG Kuijl, & IFY Marrian (Eds.), 1-136.

[6]          Lê, T. T. H., & Hoàng, T. T. (2016). Đào tạo cử nhân kế toán trong xu hướng hội nhập: thực trạng và giải pháp. Paper presented at the Kế toán, kiểm toán trong bối cảnh Việt Nam gia nhập TPP và AEC, Hà Nội.

[7]          Mai, N. A. (2016). Đào tạo Chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính (IFRS): Cơ hội và thách thức đối với các trường Đại học Việt Nam. Paper presented at the IFRS - Cơ hội và thách thức khi áp dụng tại Việt Nam, TP. HCM.

[8]          Nguyễn, N. H. (2014). Tăng cường giảng dạy chuẩn mực kế toán quốc tế trong các trường đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực khi hội nhập. Paper presented at the Kế toán tài chính - Những thay đổi và định hướng trong tiến trình hội nhập, TP. HCM.

[9]          Nguyễn, N. L., & Nguyễn, T. C. (2016). Những thách thức khi áp dụng IFRS tại Việt Nam và yêu cầu đặt ra cho các trường Đại học, các Tổ chức nghề nghiệp. Paper presented at the IFRS - Cơ hội và thách thức khi áp dụng tại Việt Nam, TP. HCM.

[10]      Nguyễn, T. M. H. (2016). Đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo kế toán đáp ứng yêu cầu hội nhập. Paper presented at the Kế toán, kiểm toán trong bối cảnh Việt Nam gia nhập TPP và AEC, Hà Nội.

[11]      Nguyễn, T. P. T. (2016). Đào tạo Kế toán khi áp dụng IFRS tại Việt Nam. Paper presented at the IFRS - Cơ hội và thách thức khi áp dụng tại Việt Nam, TP. HCM.

[12]      Phan, T. D. (2017). Định hướng chương trình đào tạo kế toán trong môi trường hội nhập chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế. Paper presented at the Chính sách tài chính - kế toán trong bối cảnh hội nhập, Nha Trang.

[13]      Trần, V. T., Phạm, T. A., & Nguyễn, K. C. (2014). Đổi mới chất lượng công tác giảng dạy môn Kế toán tài chính tại các trường đại học Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới. Paper presented at the Kế toán tài chính - Những thay đổi và định hướng trong tiến trình hội nhập, TP. HCM.

[14]     Vo, V. N., & Nguyễn, V. T. L. (2016). Một số ý kiến về vấn đề áp dụng IFRS vào kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam dưới góc nhìn của người đào tạo kế toán. Paper presented at the IFRS - Cơ hội và thách thức khi áp dụng tại Việt Nam, TP. HCM.