Đổi mới đào tạo ngành Kế toán của các trường Đại học ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu xã hội trong xu thế hội nhập

Ngày đăng: 24/07/2017 - Lượt xem: 743 (lần)
PGS.TS. Nguyễn Hữu Ánh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

TÓM TẮT

Việt Nam đã và đang hội nhập với nền kinh tế thế giới trên nhiều lĩnh vực trong đó có đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đại học và cụ thể đổi mới đào tạo ngành kế toán trong các trường đại học là yêu cầu tất yếu khách quan. Để nâng cao chất lượng đào tạo ngành kế toán, cần đổi mới trên nhiều phương diện như đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, sự phối hợp của các hiệp hội nghề nghiệp, các nhà tuyển dụng có uy tín, v.v. Do vậy, đổi mới đào tạo ngành kế toán ở Việt Nam cần được nghiên cứu bài bản, toàn diện, có cơ sở khoa học. Trên cơ sở lý thuyết, những xu hướng đổi mới đào tạo kế toán trên thế giới và thực trạng đào tạo kế toán trong các trường đại học ở Việt Nam, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm đổi mới đào tạo ngành kế toán trong các trường đại học ở Việt Nam trong thời gian tới theo hướng hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Từ khoá: Đào tạo, khung chương trình, kế toán, hội nhập

1. Giới thiệu

Hệ thống kế toán Việt Nam đã có những thay đổi tích cực theo hướng hội nhập với quốc tế trong hơn hai thập kỷ qua từ khi chúng ta chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực kế toán đáp ứng sự phát triển của đất nước và phù hợp với những thay đổi của hệ thống kế toán, đào tạo ngành kế toán trong các trường đại học cũng đã có những chuyển biến đáng ghi nhận cả về chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy, v.v. Hiện nay với việc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới như gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), là thành viên của WTO, v.v,  dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường lao động nói chung và của nghề kế toán nói riêng càng tạo thêm áp lực cho các trường đại học có đào tạo ngành kế toán phải thay đổi mạnh mẽ. Ngoài ra, sự xuất hiện và khẳng định vị thế của các tổ chức nghề nghiệp kế toán quốc tế tại Việt Nam như Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW), Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ (IMA), ... cũng đòi hỏi công tác đào tạo ngành kế toán trong các trường đại học phải tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện. Tuy nhiên, đổi mới đào tạo ngành kế toán trong các trường đại học ở Việt Nam cần được nghiên cứu, thực hiện bài bản và có chiến lược. Nội dung tiếp theo của bài viết sẽ khái quát những thay đổi đào tạo kế toán trên thế giới, đánh giá và phân tích thực trạng đào tạo kế toán trong các trường đại học ở Việt Nam, và từ đó đề xuất định hướng đổi mới đào tạo ngành kế toán ở Việt Nam trong thời gian tới.

 

2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế

            Trong hơn bốn thập kỷ vừa qua, mặc dù hệ thống đào tạo kế toán trên thế giới đã có những sự thay đổi rất lớn do ảnh hưởng của sự phát triển công nghệ thông tin, quá trình toàn cầu hoá và áp lực từ nhà đầu tư nhưng vẫn chưa theo kịp được với sự thay đổi của môi trường kinh doanh năng động, làm cho khoảng cách giữa nhà trường và doanh nghiệp ngày càng lớn, đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hoá (Albercht and Sack, 2000). Các nguyên nhân được xác định bao gồm chương trình đào tạo còn nặng tính học thuật, tổ chức đào tạo chưa trang bị đầy đủ cho sinh viên tích luỹ các khả năng: phân tích, phê bình, tư duy tổng hợp; giải quyết vần đề và nghiên cứu những vấn đề khó; sáng tạo; giao tiếp hiệu quả; xét đoán nghề nghiệp và cá nhân. Điều này đã dẫn tới sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán đã không theo kịp được yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động quốc tế, chưa có đầy đủ năng lực và các kỹ năng cần thiết để trở thành kế toán viên chuyên nghiệp cũng như khả năng học tập suốt đời (Gifford và côngh sự, 2011; Hopper, 2013). Theo Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (AICPA), mục tiêu đào tạo kế toán phải hướng đến trang bị cho người học những nền tảng để học tập suốt đời, để hoàn thiện và phát triển. Bên cạnh đó, việc đào tạo kế toán nên phát triển khả năng phân tích, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng đánh giá nghề nghiệp, và tính chính trực bên cạnh những nội dung liên quan đến chuyên môn, đến đạo đức nghề nghiệp, đến giao tiếp và đến kinh tế (AICPA, 2012). Các nước phát triển có nền giáo dục hiện đại như Mỹ, Anh, Úc v.v., đã nhanh chóng tiên phong trong việc đổi mới đào tạo kế toán với chương trình đào tạo có tính thực tiễn cao, phương pháp giảng dạy tích cực, nhiều bài tập tình huống thực tế được minh họa, thảo luận,....Trong quá trình giảng dạy, giảng viên giao bài tập nhóm, sinh viên thu thập, phân tích dữ liệu, và sau đó thuyết trình trên lớp. Bên cạnh đó, giảng viên thực hiện đánh giá liên tục, theo cả quá trình học tập các môn học kế toán trong chương trình đào tạo. Nhiều trường đại học ở Mỹ và Châu Âu cũng chú trọng đến mối liên hệ giữa nghề nghiệp và chương trình đào tạo bằng cách mời chuyên gia trong lĩnh vực thuyết trình các tình huống cụ thể mà công ty gặp phải để sinh viên thảo luận, nâng cao khả năng thực tế của sinh viên bằng việc bổ sung tình huống, kỹ năng mềm và vấn đề đạo đức nghề nghiệp (Stoner và Milner, 2010). Ngoài ra, chương trình đào tạo kế toán của một số trường đại học cũng đưa ra chương trình thực tập ngắn hạn tại các công ty và được sinh viên đánh giá cao về lợi ích mang lại cho họ từ các khoá thực tập này (Chen, 2015).

            Sự ảnh hưởng và công nhận chương trình đào tạo lẫn nhau giữa các tổ chức chuyên nghiệp về kế toán trên thế giới và các trường đại học đào tạo ngành kế toán ngày càng rõ nét. Sự đổi mới này đã giúp sinh viên tốt nghiệp rút ngắn thời gian và tài chính để học tiếp một số môn học còn lại để trở thành hội viên chính thức của các hiệp hội nghề nghiệp quốc tế, sinh viên có cơ hội việc làm tốt hơn (Apostolou và Gammie, 2014; Mathews, 2004; Gaharan và cộng sự, 2007).

            Trên bình diện tổ chức giáo dục quốc tế về kế toán toàn cầu, Uỷ ban chuẩn mực đào tạo kế toán quốc tế (International Accounting Education Standards Board - IAESB) thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of Accountants - IFAC) đã ban hành và hiệu chỉnh khung chuẩn mực đào tạo quốc tế về kế toán vào năm 2015 (International Education Standards for Professional Accountants and Aspiring Professional Accountants) để trở thành kế toán viên chuyên nghiệp. Nội dung khung chuẩn mực đào tạo kế toán viên chuyên nghiệp bao gồm: yêu cầu đầu vào cho chương trình kế toán; nội dung đào tạo của chương trình kế toán chuyên nghiệp; kỹ năng nghề nghiệp; giá trị, đạo đức và thái độ nghề nghiệp; yêu cầu kinh nghiệm thực tế; đánh giá năng lực cạnh tranh nghề nghiệp; phát triển nghề nghiệp; yêu cầu về năng lực đối với kiểm toán chuyên nghiệp.

 

3. Kết quả nghiên cứu thực trạng về đào tạo kế toán ở Việt Nam 

            Hiện nay chương trình đào tạo kế toán của các trường đại học ở Việt Nam vẫn khá đa dạng và có những khác biệt nhất định do tính tự chủ cao trong việc xây dựng chương trình đào tạo của các trường, do chất lượng đầu vào và chuẩn đầu ra cùng với định hướng chiến lược phát triển có sự khác nhau giữa các trường, v.v. Tuy nhiên, với bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng nên nhiều trường đại học ở Việt Nam đã tham khảo các chương trình đào tạo kế toán của các nước phát triển khi xây dựng chương trình đào tạo ngành kế toán của mình, nhiều trường đã và đang phát triển các chương trình đào tạo kế toán có yếu tố nước ngoài như chương trình tiên tiến, chất lượng cao, các chương trình liên kết 2+2 hoặc 3+1 về kế toán (sau khi học 2 hoặc 3 năm ở Việt Nam, sinh viên được chuyển tiếp sang trường đối tác ở nước ngoài để học tiếp 2 hoặc 1 năm để nhận bằng cử nhân của trường đối tác). Xu thế hợp tác này ngày càng được mở rộng góp phần nâng cao uy tín của các chương trình đào tạo kế toán trong nước và giảm thiểu thời gian và chi phí cho sinh viên đi du học ở nước ngoài lấy bằng cử nhân về kế toán, tăng năng lực cạnh tranh nghề nghiệp toàn cầu cho sinh viên tốt nghiệp. Bên cạnh đó, nhiều trường đại học trong nước cũng đã và đang tham khảo và tích hợp nội dung của một số môn học trong chương trình đào tạo các các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ICAEW, CPA Australia, ACCA, CIMA, v.v. để được các hiệp hội nghề nghiệp danh tiếng này công nhận chương trình đào tạo của trường và miễn nhiều nhất số môn học cho sinh viên tốt nghiệp nhằm giảm bớt thời gian và chi phí cho các sinh viên kế toán muốn học tập nhận các chứng chỉ hành nghề quốc tế và các lợi ích khác. Ở cấp độ cao hơn, một số trường đại học có xu hướng tích hợp môn học của các chương trình đào tạo của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế uy tín vào chương trình đào tạo của nhà trường để khi tốt nghiệp sinh viên cũng sẽ nhận được chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp của tổ chức quốc tế.

            Bên cạnh những thay đổi tích cực nêu trên, đào tạo ngành kế toán của các trường đại học ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, khoảng cách kỳ vọng của các nhà tuyển dụng và sinh viên tốt nghiệp còn khá lớn, số lượng sinh viên ra trường làm không đúng ngành hoặc không có việc làm có xu hướng gia tăng (Sơn, 2013). Khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của sinh viên tốt nghiệp với mức thu nhập cao của các công ty liên doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, tập đoàn lớn, v.v. còn rất hạn chế. Do vậy, các công ty, tập đoàn này không tìm được nhân sự kế toán trong nước phù hợp, đáp ứng được yêu cầu công việc. Một số nguyên nhân thuộc về chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, cách thức đánh giá sinh viên, v.v. Cụ thể như sau:

            Về chương trình đào tạo: chưa thực sự hội nhập sâu với chương trình đào tạo kế toán của các nước phát triển, tính học thuật của chương trình đào tạo còn nặng mà chưa chú trọng đến tính thực hành nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp. Trong chương trình đào tạo, nội dung một số môn học được thiết kế dựa trên Chế độ kế toán do Bộ tài chính ban hành, tập trung quá nhiều vào hướng dẫn nghiệp cụ kế toán mà chưa chú trọng đến những vấn đề nền tảng, các chuẩn mực nghề nghiệp (Sơn, 2013). Nội dung nhiều môn học trong chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, nhiều môn học còn trùng lặp cả về nội dung khoa học hoặc môn học chuyên ngành chưa được sắp xếp theo độ khó của bậc thang kiến thức nên đã ảnh hưởng đến quá trình đào tạo. Sinh viên chỉ được tiếp xúc với doanh nghiệp khi đi thực tập cuối khoá và chất lượng thực tập ở góc độ hướng dẫn, kiểm soát, đánh giá sinh viên xem mức độ hiểu biết và tiếp cận với số liệu, thực tiễn công tác kế toán ở đơn vị thực tập như thế nào còn rất hạn chế.

            Về học liệu: các giáo trình phục vụ giảng dạy chuyên ngành (đặc biệt giảng dạy cho môn học Kế toán tài chính) được các trường biên soạn bám sát theo Chế độ kế toán và Thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính nên chủ yếu tập trung vào kỹ thuật, nghiệp vụ có tính chất tác nghiệp của từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh và ít đề cập đến Chuẩn mực kế toán nên hạn chế khả năng tư duy, suy luận và phát triển kiến thức của sinh viên và bản chất của kế toán không được làm rõ. Nội dung các giáo trình chưa được cập nhật và thiếu các bài tập tình huống thực tiễn, chưa chuẩn hoá theo các giáo trình hiện đại của quốc tế trong chuyên ngành đào tạo.

            Về đội ngũ giảng viên và phương pháp giảng dạy: nhìn chung các giảng viên kế toán đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ kiến thức chuyên ngành nhưng hạn chế về khả năng ngoại ngữ nên việc tiếp cận và vận dụng các tài liệu nước ngoài phục vụ giảng dạy còn khó khăn. Bên cạnh đó thiếu kinh nghiệm thực tế của các giảng viên cũng dẫn đến ít trao đổi, thảo luận các tình huống thực tiễn trong nội dung giảng dạy để phát triển khả năng tư duy, giải quyết vấn đề, luận giải các hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp. Nhìn chung phương pháp giảng dạy kiến thức kế toán theo truyền đạt kiến thức một chiều theo kiểu truyền thống “thầy giảng, trò nghe, ghi chép và làm bài tập” vẫn là chủ đạo và phổ biến, mang nặng tính lý thuyết, thiếu thực tế, thảo luận các tình huống thực tế trong bài giảng còn rất hạn chế (Thanh, 2013; Anh, 2014). Ngoài ra, phương pháp giảng dạy tích cực lấy người học làm trung tâm chưa được thực hiện, các kỹ năng mềm chưa trang bị đầy đủ cho sinh viên như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng sáng tạo, v.v. (Vu và Hung, 2015).

            Về phương thức đánh giá sinh viên: Những năm gần đây việc đánh giá sinh viên đã thay đổi không giống như trước đây là chỉ dựa vào kết quả thi cuối kỳ; các thành phần điểm dùng để đánh giá sinh viên thường gồm: điểm chuyên cần, điểm kiểm tra giữa kỳ, và điểm thi kết thúc học phần. Tuy nhiên, phương thức đánh giá này mới chỉ dựa vào tiêu chí điểm số định lượng và thiếu tiêu thức định tính theo tiêu chuẩn của cơ quan đảm bảo chất lượng của Anh (QAA, UK) và nhiều trường đại học trên thế giới đang áp dụng, trong đó bao phải gồm cả những phản hồi của người học, phải khích lệ người học và phát triển của sinh viên, v.v.

 

4. Khuyến nghị về đổi mới đào tạo kế toán của các trường đại học ở Việt Nam

            Từ những bất cập đang tồn tại của đào tạo ngành kế toán trong các trường đại học ở Việt Nam và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường lao động nghề kế toán trong nước và trên thế giới, việc đổi mới và hoàn thiện công tác đào tạo ngành kế toán ở Việt Nam là hết sức cần thiết và một vài khuyến nghị đề xuất như sau:

            Thứ nhất, đổi mới chương trình đào tạo: giảm bớt tính hàn lâm, lý thuyết thuần tuý trong chương trình đào tạo, tăng cường thực hành cho sinh viên ngành kế toán. Một trong các cơ sở tham chiếu quan trọng để xây dựng chương trình đào tạo là khung chuẩn mực đào tạo quốc tế về kế toán vào năm 2015 (International Education Standards for Professional Accountants and Aspiring Professional Accountants) của Uỷ ban chuẩn mực đào tạo kế toán quốc tế thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of Accountants - IFAC). Chương trình đào tạo ngành kế toán của các trường đại học cần có sự tham chiếu, so sánh với chương trình đào tạo kế toán của các trường đại học trên thế giới, và các tổ chức nghề nghiệp quốc tế uy tín để tích hợp cao nhất nội dung và chương trình đào tạo của các tổ chức này nhằm đảm bảo các chương trình đào tạo kế toán của Việt Nam hội nhập với các trường trên thế giới và các tổ chức nghề nghiệp quốc tế danh tiếng. Từ đó, chương trình đào tạo kế toán của các trường đại học ở Việt Nam sẽ được công nhận tín chỉ bởi các trường đại học ở các nước phát triển và các tổ chức nghề nghiệp quốc tế uy tín.

            Thứ hai, đổi mới học liệu: hệ thống học liệu phục vụ giảng dạy và học tập (đặc biệt các học phần chuyên ngành trong chương trình đào tạo kế toán) cần được đổi mới theo hướng hiện đại, có tính thực tiễn cao. Nội dung học liệu của các môn học không có tính chất ràng buộc bởi qui định có tính pháp lý như Kế toán quốc tế, Kế toán quản trị, Phân tích báo cáo tài chính, v.v. cần có sự hội nhập cao nhất với các giáo trình hiện đại trên thế giới. Đối với học liệu phục vụ giảng dạy các môn học có tính đặc thù chi phối bởi các Chuẩn mực kế toán, thông tư hướng dẫn, v.v., cũng vẫn cần hội nhập với quốc tế và những nội dung kiến thức đặc thù ảnh hưởng bởi các qui định pháp lý hiện hành nên được chuyển thành các tình huống nghiên cứu trong ngữ cảnh Việt Nam.

            Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy: chuyển đổi triệt để từ phương pháp giảng dạy truyền thống, nặng về lý thuyết, xa dời thực tiễn sang phương pháp giảng dạy tích cực hiện đại, có tính thực tiễn cao, một số môn học của ngành kế toán cần sử dụng giáo trình của nước ngoài có nền giáo dục phát triển để sinh viên được tiếp cận với kho tàng kiến thức hiện đại và theo kịp với sự phát triển của thế giới. Trong quá trình tổ chức giảng dạy, cần kết hợp với đội ngũ kế toán, kiểm toán viên chuyên nghiệp đang công tác tại các công ty, tập đoàn lớn trong và ngoài nước có nhiều năm kinh nghiệp làm việc đến trao đổi các vấn đề thực tiễn cho sinh viên. Bên cạnh đó, giảng viên của các trường đại học cần hướng tới hoàn thiện các kỹ năng chính sau cho sinh viên (Carla Carnaghan C. và cộng sự, 2011): kỹ năng tổ chức thu thập, đánh giá thông tin;kỹ năng làm việc theo nhóm; kỹ năng phân tích từ những dữ liệu có sẵn, chưa được sàng lọc; kỹ năng sử dụng thông tin kế toán; kỹ năng kết nối và giao tiếp, v.v. Ngoài ra trong quá trình giảng dạy các môn học kế toán, cần phải giảng dạy các Chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế để sinh viên hiểu rõ bản chất của vấn đề thay vì quá tập trung vào chế độ kế toán, các nghiệp cụ kinh tế cụ thể, v.v.

            Thứ tư, đổi mới phương pháp đánh giá sinh viên: trên cơ sở kinh nghiệm của cơ quan đảm bảo chất lượng của Anh (QAA, UK) và nhiều trường đại học trên thế giới đang áp dụng thành công, phương thức đánh giá sinh viên của các trường đại học Việt Nam nên áp dụng theo hai tiêu chí: định lượng và định tính. Với tiêu chí định lượng, chúng ta sử dụng kết quả học tập của sinh viên gồm nhiều thành phần điểm như chuyên cần, kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ, thuyết trình, v.v. Với tiêu chí định tính, các trường đại học Việt Nam nên kế thừa thành tựu của nhiều trường đại học trên thế giới như Sydney University; Macquarie University, v.v. đang áp dụng hai phương thức đánh giá theo quá trình và đánh giá tổng kết (Susan M. Curtis, 2011; Stivers P. và cộng sự, 2000). Cụ thể, các trường đại học này đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường định lượng và định tính, bao gồm: kỹ năng giao tiếp (communication skills);khả năng sáng tạo (intellectual skill); kỹ năng làm việc nhóm (interpersonal skill); kiến thức chung (general knowledge); kiến thức về tổ chức và kinh doanh (organizational and business knowledge); kiến thức về kế toán chuyên ngành (accounting knowledge).

 

5. Kết luận

            Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới nên đã tác động đến nhiều ngành nghề trong đó có nghề kế toán, đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập AEC, kế toán đã trở thành một trong tám ngành nghề được di chuyển tự do trong khối ASEAN và điều này dẫn đến việc đổi mới đào tạo ngành kế toán trong các trường đại học Việt Nam không thể chậm chễ. Chỉ có đổi mới bài bản, tổng thể, đồng bộ về đào tạo kế toán ở Việt Nam mới có thể đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực kế toán ngày càng đòi hỏi cao của thị trường lao động. Chúng ta cần đổi mới nhiều phương diện gồm: chương trình đào tạo, giáo trình học liệu, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, phương pháp đánh giá sinh viên, tăng cường cơ sở vật chất điều kiện phục vụ tổ chức giảng dạy và học tập của sinh viên. Với những đổi mới tổng thể và đồng bộ như vậy, công tác đào tạo kế toán của các trường đại học ở Việt Nam mới có thể nắm bắt được những cơ hội của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đồng thời mới có thể vượt qua và biến thách thức thành các cơ hội từ quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ.

 

Tài liệu tham khảo

[1]          Albrecht, S. W. and R. J. Sack., 2000. Accounting educators: charting the course through a perilous future. Accounting education series (volume 16).

[2]          Apostolou, B and Gammie, E., 2014. The role of accreditation in accounting education and training. In the routledge companion to accounting. Education routledge.

[3]          Carla Carnaghan C. và cộng sự., 2011. Using student response systems in the accounting classroom: strengths, strategies and limitations. Journal of Accounting Education, 29, 4, 265-283.

[4]          Chen, T. T., 2015. Is reform in accounting education needed in China and Russia: a literature review. Australian accounting business and finance journal, 9, 3, 72.

[5]          Đặng Đức Sơn., 2013. Những vấn đề nâng cao chất lượng nhân sự kế toán, kiểm toán ở Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo Kế toán - Kiểm toán trong quá trình cải cách và hội nhập, 302-305.

[6]          Gifford, R. H., Howe, H., and Mitschow, M., 2011. A model for interpreting accounting curricula on academic and professional skills dimentions. The journal of theoretical accounting research, 6, 2, 96.

[7]          Hopper, T., 2013. Making accounting degrees fit for a university. Critical perspectives on acconting, 24, 2, 127-135.

[8]          Stoner, G., and Milner, M., 2010. Emdedding generic employability skills in an accounting degree: development and impediments. Accounting education: an international journal, 19, 123-138.

[9]          Susan M. Curtis., 2011. Formative assessment in accounting education and some initial evidence on its use for instructional sequencing. Journal of accounting education, 29, 4, 191-211.

Stivers P., Campbell J. E., andHermanson H. M., 2000. An assessment program for accounting: design, implementation,and reflection. Issues in accounting education, 15, 4.