Đổi mới và tiếp cận phương pháp giảng dạy các môn Kế toán theo IFRS dựa vào các nguyên tắc Kế toán chung được thừa nhận (GAAP) hay khuôn mẫu Kế toán

Ngày đăng: 29/07/2017 - Lượt xem: 567 (lần)
PGS.TS. Trần Phước, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM

TÓM TẮT

Bộ Tài chính đã và đang xây dựng đề án và lộ trình áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS-International FinancialReporting Standards) cho các doanh nghiệp tại Việt Nam. Trong đó có đề cập đến những thay đổi căn bản nội dung và phương pháp giảng dạy theo cách tiếp cận “truyền thống”, thực chất là cách dạy theo hướng dẫn của “Chế độ kế toán”, chi tiết theo từng tài khoản, từng mẫu biểu báo cáo tài chính với các quy định cơ bản(Rules-based) được Bộ Tài chính hưỡng dẫn tỉ mỉ. Tuy nhiên khi áp dụng IFRS vào Việt Nam, bắt buộc giảng viên phải thay đổi cách thức dạy, sẽ phải dạy kế toán dựa trên nguyên tắc cơ bản (Principles-based)khuôn mẫu (Framework) của kế toánchứ không phải dạy theo quy định của chế độ kế toán nữa! Bài viết này chỉ ra những cơ hội, thách thức và một số hàm ý giải pháp cho công cuộc đổi mới tư duy của giảng viên đang giảng dạy các môn kế toán trong xu thế hội nhập, đó là đổi mới và tiếp cận phương pháp giảng dạy các môn kế toán theo Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế dựa trên các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (GAAP-Generally Accepted Accounting Principles) hay khuôn mẫu kế toán (Conceptual Framework).

Từ khóa:IFRS, GAAP, khuôn mẫu, đổi mới, tiếp cận, phương pháp giảng dạy kế toán

 

1.       Giới thiệu

Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến cuối năm 2016 cả nước có 553 đơn vị đào tạo, trong đó có 203 trường đại học, học viện và viện, 208 trường cao đẳng, và 142 trường trung cấp chuyên nghiệp. Hầu hết các cơ sở đào tạo đều có đào tạo ngành kế toán với số lượng giảng viên ngành kế toán khá hùng hậu. Kết quả là hàng năm đã có gần 10 ngàn lao động có trình độ kế toán tốt nghiệp. Việt Nam hiện nay đã hội nhập sâu rộng với quốc tế, tuy nhiên lĩnh vực kế toán còn khá chậm thay đổi để hội nhập. Các chuẩn mực kế toán ban hành từ đầu những năm 2000 trở nên cũ kỷ. Với sự nổ lực của Vụ Chế độ Kế toán – Bộ Tài chính cũng như các cơ quan chuyên môn khác đã dành rất nhiều thời gian và chi phí vào nghiên cứu vấn đề này để có thể nhanh chóng đưa vào áp dụng các chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) phù hợp hơn với tình hình thực tiễn kinh tế tại Việt Nam.

Các IFRS được áp dụng tại các quốc gia phát triển 2005 và hiện tại có trên 100 quốc gia áp dụng một phần hoặc đầy đủ, điều này tác động đáng kể đến việc ổn định thị trường tài chính, thông tin tài chính được lập dựa vào IFRS cung cấp cho nhà đầu tư minh bạch hơn. Đồng thời nhiều nghiên cứu cho thấy các quốc gia áp dụng IFRS dễ thu hút đầu tư từ nước ngoài, thu hút dòng vốn ngoại từ các thị trường vốn quốc tế hơn. Thực tiễn là tại hội thảo “IFRS – Định hướng và lộ trình áp dụng tại Việt Nam” do Bộ Tài chính và Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc (ACCA) tổ chức vào ngày 21/12/2016 tại TP.HCM và ngày 23/12/2016 tại Hà Nội, các bài phát biểu, tham luận từ các vị lãnh đạo, hay các hiệp hội, các trường có đào tạo kế toán hay đại diện Ngân hàng thế giới đều khẳng định những lợi ích của việc áp dụng IFRS giúp nâng cao năng lực tài chính và khả năng tăng trưởng của các doanh nghiệp. Song song với những lợi ích, các chuyên gia cũng chỉ ra những khó khăn mà các doanh nghiệp đang và sẽ gặp phải trong tiến trình áp dụng IFRS sắp tới, bởi vì đội ngũ kế toán để triển khai thực hiện việc này chưa được đào tạo hay cập nhật cụ thể nội dung cũng như phương pháp làm kế toán dựa trên IFRS. Đây cũng là thách thức và cũng là cơ hội cho hàng ngàn giảng viên tham gia đào tạo ngành kế toán phải thay đổi tư, thay đổi phương pháp giảng dạy truyền thống, thay đổi phương pháp tiếp cận như lâu nay đã làm.

2.        Thách thức và cơ hội

Tại Việt Nam, với thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn hảo, thị trường chứng khoán chưa phát triển ổn định, pháp luật và chính sách tài chính – tiền tệ thường xuyên thay đổi, điều này dẫn đến thách thức thứ nhất, một số chuẩn mực kế toán quốc tế nếu vận dụng vào Việt Nam thì chưa thể, chẳng hạn chuẩn mực giá trị hợp lý hay chuẩn mực công cụ tài chính,… Do vậy khi vận dụng vào việc giảng dạy đôi khi không thấy sự xâu chuỗi giữa lý luận và thực tiễn, hay nói cách khác nội dung và nguyên tắc trong chuẩn mực không phù hợp với những gì diễn ra thực tế tại doanh nghiệp. Thách thức thứ hai, hầu hết cá nhân người làm kế toán hay giảng dạy kế toán tại Việt Nam đều chưa trang bị gì nhiều về IFRS để thực hiện công việc này. Thách thức thứ ba, đó là rào cản về ngôn ngữ, hiện nay hầu hết các IFRS đều bằng tiếng Anh, các tài liệu hướng dẫn, sách giáo trình bằng tiếng Anh, Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan đang tiếng hành biên dịch, khoảng thời gian này cho đến 2020 là thách thức cho mọi người làm việc có liên quan đến kế toán. Đây là một trong những thách thức buộc mọi người phải trang bị khả năng đọc hiểu ngôn ngữ Anh ở mức độ có thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, mặc dù có những thách thức như vậy nhưng cơ hội cũng sẽ đến với những người làm kế toán nói chung và những người đang làm công tác đào tạo nguồn nhân lực này cho đất nước. Một là, thay đổi cách thức truyền đạt dẫn theo hướng phát triển tư duy nhiều hơn là cầm tay chỉ việc và đặt người học vào tâm thế học thuộc các quy định và nhớ số hiệu tài khoản và định khoản. Điều này cơ hội để nâng cao chất lượng đào tạo trong tình hình hình mới. Hai là, cơ hội hành nghề kế toán quốc tế. Khi đã vận dụng một phần hay toàn bộ IFRS thì khả năng người dạy hay làm kế toán sẽ đạt được một chuẩn quốc tế nhất định. Hệ quả là khả năng hội nhập cao, cơ hội làm việc trên thị trường quốc tế rộng mở, có điều kiên nâng cao kiến thức và thu nhập. Ba là, sách - giáo trình hay tài liệu hướng dẫn giảng dạy và thực hành kế toán theo IFRS hay GAAP rất phong phú, đây là nguồn tài liệu tham khảo quý giá mà người dạy kế toán dùng làm tài liệu biên soạn giáo án hay bài giảng, mặt khác người làm kế toán có cơ hội giải quyết những tình huống khó gặp phải trong công việc hàng ngày từ những tình huống và kinh nghiệm của các giáo sư đầu ngành trên toàn thế giới.

3.        Một vài hàm ý cho việc đổi mới và giảng dạy kế toán theo IFRS

Thực tế các IFRS đã ban hành và sử dụng rộng rãi hiện nay đã được Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB (International Accounting Standards Board) biên soạn dựa trên các nguyên tắc kế toán cơ bản đã được thừa nhận rộng rãi nhiều hơn là dùng các quy định chung (Timothy Doupnik, 2015). Các nguyên tắc cơ bản trong các chuẩn mực kế toán hầu hết có nguồn gốc từ khuôn mẫu kế toán của IASB (IASB Framework), trong đó hướng dẫn việc ghi nhận, đánh giá, lập, và trình bày báo cáo tài chính. Điều này là cơ sở vững chắc để người dạy tiếp cận và đổi mới cách thức truyền đạt cho người học. 

Từ nhận định trên việc các giảng viên tiếp cận phương pháp giảng dạy các môn kế toán theo Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế dựa trên các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận hay khuôn mẫu kế toán của IASB là khả thi hơn cả trong điều kiện mới.

Trước khi tiếp cận phương pháp giảng dạy kế toán theo xu hướng mới, chúng ta cùng nhau nhìn nhận nguyên tắc kế toán và khái niệm khuôn mẫu kế toán là gì?

Nguyên tắc kế toán là những định đề hay những tiêu chuẩn thông tin đã được chứng minh là hợp lý qua thực tiễn. Thực vậy, các nguyên tắc trong kế toán như nguyên tắc giá gốc, nguyên tắc cơ sở dồn tích, nguyên tắc thận trọng,… mà những ai đã làm kế toán mà không dùng nó để đánh giá hay ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong công việc hàng ngày. Người giảng viên cũng vậy, dùng các nguyên tắc kế toán để giải thích hay phân tích các sự kiện kinh tế để từ đó ghi nhận thành các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Chẳng hạn, dùng nội dung của nguyên tắc thận trọng để giải thích mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho sao cho phù hợp với giá trị ghi sổ, hay là giải thích việc ghi nhận tăng tài sản khi chưa thanh toán tiền cho người mua với đơn giá mua là ngoại tệ trong khi thực tế giá ngoại tệ trên thị trường có hai tỷ giá bán ra và tỷ giá mua vào.

Khái niệm khuôn mẫu (Conceptual Framework) kế toán hay nói ngắn gọn là khuôn mẫu (Framework) kế toán là một khung thông tin tài chính được chấp nhận rộng rãi, chúng được tạo ra từ các nguyên tắc lý thuyết kế toán cơ bản dùng để thực hiện việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hay lập và trình bày báo cáo kế toán.

Các khuôn mẫu kế toán thường được thiết kế riêng hay trong từng chuẩn mực kế toán cụ thể (IAS/IFRS).

Chẳng hạn, sau khi người học đã được học các nguyên tắc vào tài khoản hay còn gọi là định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, ở Việt Nam thường được giảng dạy trong môn Nguyên lý Kế toán, khuôn mẫu kế toán hướng dẫn người học cách ghi nhận như sau:

      Nợ <Khoản mục kế toán A>, ví dụ Nợ Phải trả người bán (X)

                  Có <Khoản mục kế toán B>, ví dụ Có Tiền gửi ngân hàng (Y)

Không như tại Việt Nam, thường hạch toán theo quy định của Chế độ kế toán, số tài khoản, tên tài khoản phải theo quy định thống nhất, do vậy người làm kế toán thực hiện ghi:

      Nợ TK 331 - Phải trả người bán

                  Có TK 112 - Có Tiền gửi ngân hàng

Hay như khi trình bày các thông tin tài chính trên Báo cáo tài chính, khuôn mẫu kế toán chỉ hướng dẫn khung chung, thực tế đơn vị đang hoạt động có liên quan những thông tin tài chính nào thì chỉ trình bày những thông tin tài chính ấy, không nhất thiết phải theo đúng mẫu quy định của Bộ Tài chính như tại Việt Nam trong đó có khá nhiều thông tin doanh nghiệp không hề liên quan.

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN tại ngày /  /

 

Đầu năm

Cuối kỳ

 

Đầu năm

Cuối kỳ

Tài sản

-

-

Nợ phải trả

-

-

Tiền mặt

-

-

Ngắn hạn

-

-

TGNH –X

-

-

Dài hạn

-

-

Xe tải

-

-

Vốn CSH

-

-

Phân xưởng: A

-

-

 

 

 

Cộng tài sản

-

-

Cộng Nguồn vốn

-

-

 

BÁO CÁO KQHĐKD, Kỳ …/200.

Khoản mục

Số tiền

Doan thu

 

Chi phí

 

Lợi nhuận

 

 

Về mặt báo cáo tài chính, các nguyên tắc và khuôn khổ lý thuyết kế toán cung cấp cơ sở cho cả việc lập và trình bày được đúc kết trong từng ISA/IFRS cụ thể. Mục đích là cung cấp thông tin hữu ích trong việc ra các quyết định kinh doanh và kinh tế cho người có nhu cầu sử dụng thông tin. Các khái niệm trong các khuôn mẫu sẽ tạo thành cơ sở lý thuyết để xác định những sự kiện nào được sử dụng để đo lường và đánh giá các đối tượng kế toán theo cách thức chúng được truyền đạt. Do đó, khuôn mẫu kế toán có trong từng IFRS là những nền tảng lý thuyết để các giảng viên dựa vào đó để thiết kế bài giảng.

4.        Kết luận và kiến nghị

Thay đổi quan điểm dạy kế toán là điều kiện tất yếu trong tình hình mới. Cập nhật và tiếp cận các giáo trình nước ngoài, IFRS,… để thay đổi giáo trình, giáo án giảng dạy. Các khoa, các trường có đào tạo ngành kế toán cần gấp rút triển khai:

-          Biên soạn lại giáo trình Nguyên lý kế toán: Tập trung giảng dạy các khái niệm, phương pháp kế toán và các nguyên tắc, khuôn mẫu kế toán;

-          Biên soạn lại các giáo trình Kế toán tài chính theo các hướng với kết cấu các chương theo khoản mục kế toán, theo các chuẩn mực từ chung đến cụ thể, hay theo hướng tiếp cận các chu trình kế toán cơ bản trong hoạt động SXKD trong doanh nghiệp.

Bộ Tài chính và các hội nghề nghiệp cần tăng cường tổ chức hội thảo, giao lưu học thuật, cung cấp tài liệu và hướng dẫn việc triển khai và áp dụng IFRS vào Việt Nam một cách hiệu quả và thiết thực.

 

Tài liệu tham khảo

[1]   Trần Khánh Đức, 2009, Giáo dục và Phát triển nguồn lực trong thế kỷ 21, NXB Giáo dục VN – Hà Nội.

[2]   ĐH Webster – Mỹ, 2017, “Chương trình khung và hướng dẫn thực hiện chương trình Kế toán quốc tế”, Lưu hành nội bộ tại ĐH Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM.

[3]   ĐH Coventry – Anh Quốc, 2016, “Chương trình khung và hướng dẫn thực hiện chương trình Kế toán – Tài chính quốc tế”, Lưu hành nội bộ tại ĐH Nguyễn Tất Thành

[4]   The International Financial Reporting of Group Ernst & Young, International GAAP 2016 -Generally Accepted Accounting Practice under International Financial Reporting Standards, The Edition First Published in 2016 by John Wiley & Sons Ltd., UK.

[5]   Timothy Doupnik and Hector Perera (2015), International Accounting, Fourth Edition Published by McGraw – Hill International 2015.