Phát triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam

Ngày đăng: 17/07/2017 - Lượt xem: 475 (lần)
Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính

Hiện nay, Bộ Tài chính đang triển khai thực hiện Quyết định 480/QĐ -TTg ngày 18/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 và thực hiện Nghị quyết 35/ NQ- CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến 2020. Theo đó việc phát triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về Chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách cần phải được sớm triển khai để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Để làm được điều này, Bộ Tài chính đang xây dựng đề án đưa IFRS vào Việt Nam và cập nhật, ban hành mới VAS/VFRS, trong đó đề cập đến hướng đi cho Việt Nam, lộ trình áp dụng, biện pháp triển khai, thực hiện…

 

1. Tổng quan

Trong những năm 2001 đến 2005, Việt Nam đã nghiên cứu, xây dựng và ban hành 26 Chuẩn mực kế toán dựa trên hệ thống Chuẩn mực kế toán quốc tế tại thời điểm đó. Sau hơn 10 năm áp dụng, không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) trong việc nâng cao tính minh bạch và độ trung thực của báo cáo tài chính, cung cấp những thông tin có chất lượng, phù hợp với trình độ quản lý và đặc thù của nền kinh tế. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, do sức ép từ việc cải cách thể chế cũng như yêu cầu của nền kinh tế, VAS ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, một số nội dung chưa theo kịp với các thay đổi giao dịch của nền kinh tế thị trường, nhất là trong bối cảnh hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp, tổ chức tài chính và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đang diễn ra mạnh mẽ, xuất hiện ngày càng nhiều các loại công cụ tài chính phức tạp.

Theo đánh giá của các định chế tài chính quốc tế và giới chuyên môn, sự khác biệt giữa VAS và IFRS hiện nay còn tương đối lớn, tạo ra một số rào cản và làm giảm niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Có thể nói, một trong những sự khác biệt lớn nhất giữa 2 hệ thống là nhiều khoản mục trên BCTC cần được đánh giá lại theo giá trị hợp lý hoặc giá trị có thể thu hồi theo IFRS nhưng vẫn được ghi theo giá gốc theo VAS và điều này làm cho giá trị tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp chưa phản ánh đúng như diễn biến trên thực tế của thị trường. Việc chưa ban hành một số Chuẩn mực quan trọng như công cụ tài chính, tổn thất tài sản,… khiến các doanh nghiệp chưa có căn cứ pháp lý để ghi nhận các khoản tổn thất một cách kịp thời, các công cụ tài chính phái sinh chưa được sử dụng rộng rãi để phòng ngừa rủi ro cho hoạt động kinh doanh và một đất nước có tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm phần lớn trong nền kinh tế như Việt Nam lại chưa có Chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp.

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, phạm vi hoạt động của các nhà đầu tư trải rộng trên toàn thế giới, kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại của từng quốc gia. Hiện nay chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đang ngày càng được thừa nhận rộng rãi.Theo tài liệu của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế, đến năm 2016 đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93%) đã tuyên bố chính thức về việc áp dụng với các hình thức khác nhau. Trong đó, có 119/143 (chiếm tỷ lệ 83,2%) quốc gia và vùng lãnh thổ đã yêu cầu bắt buộc sử dụng các chuẩn mực của IFRS đối với tất cả hoặc hầu hết các công ty đại chúng trong nước. Ngay cả Hoa Kỳ, quốc gia có truyền thống áp dụng riêng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận (US GAAP) cũng đang trong quá trình hợp nhất US GAAP và IFRS. Vào khoảng mười năm trước đây, ý tưởng về việc áp dụng nguyên mẫu IFRS tại Việt Nam đã được đề cập nhưng còn khá xa vời vì những hạn chế trong nhận thức và cách tiếp cận. Ngày nay, nhu cầu này đòi hỏi phải xúc tiến quá trình hài hòa, thống nhất chuẩn mực kế toán quốc gia với chuẩn mực kế toán quốc tế nhằm tạo ra một ngôn ngữ chung về kế toán, giúp thúc đẩy môi trường kinh doanh, tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Tình hình áp dụng IFRS trên thế giới được nêu trong Bảng sau:

Ô màu đậm: Bắt buộc áp dụng đối với các đơn vị có lợi ích công chúng (119 quốc gia).

Ô màu nhạt:Cho phép lựa chọn áp dụng (12 quốc gia).

Ô màu trắng: Áp dụng chuẩn mực kế toán riêng của quốc gia (12), trong đó có một số nước cũng đã có kế hoạch để áp dụng IFRS (Thái Lan, Indonesia).

 

[Nguồn: Ấn phẩm “Ngôn ngữ báo cáo tài chính toàn cầu” của IFRS Foundation phát hành tháng 5 năm 2016]

          Việc áp dụng mô hình nào tùy thuộc vào điều kiện phát triển và tình hình cụ thể của từng quốc gia. Tuy nhiên, về cơ bản các quốc gia (bao gồm các quốc gia phát triển) áp dụng IFRS cho một số đối tượng nhất định (công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài hoặc áp dụng cho BCTC hợp nhất của các công ty niêm yết,…), phần còn lại áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia được xây dựng trên cơ cở chuẩn mực quốc tế.

Không thể phủ nhận những lợi ích to lớn mà IFRS mang lại. Khi áp dụng IFRS, chất lượng của báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ được cải thiện một cách rõ rệt thông qua việc nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh, cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính nhiều thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản lý, điều hành và đầu tư. Mặc dù cần nguồn lực đầu tư trước mắt nhưng về lâu dài, việc áp dụng IFRS sẽ làm giảm chi phí lập BCTC cho doanh nghiệp, thu hút được các nguồn lực từ công chúng trong và ngoài nước, huy động vốn với chi phí thấp. Ngoài ra, việc áp dụng IFRS cũng là một yếu tố để quốc tế công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, từ đó khơi thông dòng vốn FDI, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc bảo vệ các nhà đầu tư và tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Tuy nhiên, cần hiểu rõ việc áp dụng IFRS tại Việt Nam không chỉ hoàn toàn thuận lợi. Thách thức, khó khăn nhất trong việc áp dụng IFRS là vấn đề nguồn nhân lực. Các trường đại học, nơi cung cấp nguồn nhân lực đầu ra cho xã hội chưa đưa vào chương trình đào tạo các nội dung của IFRS dẫn đến hầu hết sinh viên khi ra trường chưa được trang bị kiến thức về IFRS. Những người làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp cũng chưa được đào tạo IFRS do thiếu các cơ sở đào tạo có đủ trình độ hiểu biết chuyên sâu về IFRS. Hiện chỉ có một vài tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, ICAEW, CPA Australia có chương trình đào tạo nhưng số lượng người tham dự chưa nhiều, phạm vi phổ biến chưa rộng. Một khó khăn nữa là thị trường hoạt động (active market) của Việt Nam chưa đủ mạnh, các căn cứ phục vụ cho việc xác định giá trị giá trị hợp lý của một số tài sản và nợ phải trả chưa thực sự đáng tin cậy, nhất là trong bối cảnh tính tuân thủ luật pháp của một bộ phận doanh nghiệp chưa cao, dẫn đến tình trạng cố tình bóp méo các thông tin được công bố theo ý định chủ quan của người quản lý, điều hành phát sinh từ việc thực hiện các ước tính kế toán một cách không trung thực.

Hướng đến việc thực hiện chiến lược kế toán, kiểm toán đến 2030, Bộ Tài chính đang xây dựng đề án và lộ trình cụ thể để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, đảm bảo vừa mang tính hội nhập, vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý và đặc thù của nền kinh tế. Theo đó đang gấp rút triển khai nghiên cứu các nội dung của IFRS, xem xét sự khác biệt giữa VAS và IFRS và đánh giá các tác động, tính khả thi, lợi ích cũng như khó khăn, thách thức có thể gặp phải khi áp dụng IFRS, từ đó xây dựng lộ trình và định hướng cho Việt Nam trong việc áp dụng IFRS. Một trong những câu hỏi lớn đặt ra cho Việt Nam hiện nay là áp dụng IFRS như thế nào, áp dụng nguyên mẫu hay có điều chỉnh. Nếu có thì đối tượng nào nên áp dụng nguyên mẫu, đối tượng nào nên áp dụng từng phần có chọn lọc kèm theo một số sửa đổi cho phù hợp với đặc thù của nền kinh tế?

 

2. Lợi ích, khó khăn, thách thức khi áp dụng IFRS

2.1. Lợi ích

- Một trong những lợi ích rõ nhất từ việc áp dụng IFRS là yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải trình, nâng cao tính minh bạch của Báo cáo tài chính và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau cũng như trong các giai đoạn khác nhau của cùng một doanh nghiệp. IFRS yêu cầu các giao dịch phải được phản ánh theo bản chất, phù hợp với cách thức vận hành hơn là tên gọi hay hình thức pháp lý của chúng, điều này sẽ giúp cho kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh khách quan, trung thực, doanh nghiệp không thể tùy tiện giấu lãi hoặc lỗ theo ý muốn chủ quan của mình. Những thông tin về giá trị hợp lý, giá trị hiện tại, giá trị có thể thu hồi, giá trị thuần có thể thực hiện được, yêu cầu ghi nhận kịp thời các khoản tổn thất, đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ… giúp đánh giá đúng năng lực tài chính tạo cho doanh nghiệp có đủ nguồn lực thanh toán, ổn định và cân đối tài chính trong tương lai.

- Áp dụng IFRS giúp cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính nhiều thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản lý, điều hành, quản trị và kiểm soát rủi ro. Khi áp dụng IFRS, Ban giám đốc phải công bố chi tiết các căn cứ cho việc ghi nhận và trình bày Báo cáo tài chính, giải trình nguyên nhân cụ thể trong những trường hợp không thể tuân thủ Chuẩn mực, thuyết minh rõ những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình hoạt động, như: Căn cứ xác định giá trị hợp lý của tài sản và nợ phải trả, các sự kiện đã phát sinh sử dụng làm căn cứ trích lập dự phòng nợ phải trả, căn cứ ghi nhận các khoản lỗ ước tính trong tương lai từ các hợp đồng có rủi ro lớn, thuyết minh về các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, rủi ro tín dụng, rủi ro suy giảm lãi trên cổ phiếu và suy giảm dòng tiền trong tương lai… từ đó hỗ trợ quá trình đưa ra quyết định kinh tế của nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát ngay trong nội bộ doanh nghiệp cũng như từ phía cơ quan quản lý Nhà nước.

- Việc áp dụng IFRS là một yếu tố để quốc tế công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, từ đó khơi thông dòng vốn FDI, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc bảo vệ các nhà đầu tư và tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Mặc dù cần nguồn lực đầu tư trước mắt nhưng về lâu dài, việc áp dụng IFRS sẽ làm giảm chi phí lập BCTC cho doanh nghiệp, thu hút được các nguồn lực từ công chúng trong và ngoài nước, giúp doanh nghiệp có thể huy động vốn với chi phí thấp vì để niêm yết hoặc huy động vốn thành công trên thị trường quốc tế, Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhất thiết phải được lập và kiểm toán theo các chuẩn mực quốc tế.

2.2. Khó khăn, thách thức

- Thị trường vốn, thị trường tài chính chưa phát triển đủ mạnh, một số công cụ tài chính như trái phiếu chuyển đổi, công cụ phái sinh, cổ phiếu ưu đãi chưa được giao dịch rộng rãi nên hầu hết các doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm trong việc thực hiện giao dịch và hạch toán các nội dung kinh tế liên quan. Thị trường hoạt động đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nên không phải lúc nào cũng có thể cung cấp thông tin về giá trị hợp lý một cách đáng tin cậy do các yếu tố để xác định giá trị hợp lý không sẵn có;

- Nền kinh tế còn chịu ảnh hưởng lớn từ các doanh nghiệp Nhà nước mà các doanh nghiệp này khó có thể áp dụng và đáp ứng yêu cầu của IFRS do tâm lý sợ minh bạch, muốn giấu diếm sự thật về sức khỏe tài chính, muốn làm đẹp Báo cáo tài chính vì mục đích để được phân loại hoàn thành nhiệm vụ và giữ ghế Ban Lãnh đạo. Mặt khác, nhiều đoanh nghiệp Nhà nước là công ty mẹ của các đơn vị có lợi ích công chúng, nếu công ty con áp dụng IFRS trong khi công ty mẹ không áp dụng IFRS thì chính sách kế toán của tập đoàn không thống nhất và không thể thực hiện việc hợp nhất Báo cáo tài chính.

- Nguồn nhân lực nhìn chung chưa được đào tạo về IFRS, thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc thực hành IFRS. Phần lớn sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về IFRS do hầu hết các trường đại học chưa giảng dạy cả về mặt nội dung cũng như phương pháp nghiên cứu IFRS. Hiện tại chỉ có một số trường đại học có liên kết với nước ngoài hoặc các Hiệp hồi nghề nghiệp quốc tế như ACCA, ICAEW, CPA Australia… có chương trình đào tạo về IFRS nhưng số lượng học viên chưa nhiều một phần do chi phí còn cao so với mặt bằng chung và học viên chủ yếu là nhân sự từ các công ty kiểm toán hoặc các doanh nghiệp nước ngoài. Qua khảo sát các doanh nghiệp Việt Nam, đại bộ phận kế toán viên đều chưa được đào tạo về IFRS nên sự sẵn sàng áp dụng IFRS còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp có tâm lý ngại thay đổi.

- Do IFRS yêu cầu một số kỹ thuật phức tạp và thực hiện một số đánh giá mang tính chủ quan, như việc thực hiện các ước tính về giá trị hợp lý khi không có giá niêm yết trên thị trường, giá trị có thể thu hồi, tổn thất tài sản của đơn vị tạo tiền và lợi thế thương mại, xác định giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai… nên về cơ bản IFRS chỉ phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô lớn, công tác kế toán được thực hiện bài bản, nề nếp. Qua khảo sát cho thấy, các quốc gia trên thế giới thường chỉ bắt buộc các đơn vị có lợi ích công chúng áp dụng nguyên mẫu IFRS còn các doanh nghiệp khác chỉ khuyến khích vì có thể không có đủ nguồn lực cần thiết. Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có đủ năng lực và trình độ, nếu không có một thời gian chuẩn bị thì việc áp dụng IFRS sẽ rất khó thành công.

- Rào cản ngôn ngữ cũng là một khó khăn cần tính đến do IFRS được soạn thảo bằng tiếng Anh và để có thể phổ biến, quảng bá rộng rãi IFRS đến công chúng, cần phải dịch sang tiếng Việt. Tuy nhiên việc chuyển tải chính xác các thuật ngữ chuyên môn không phải là điều dễ dàng vì người có đủ trình độ ngoại ngữ lại chưa chắc có đủ trình độ chuyên môn và ngược lại. Mặt khác, khi xảy ra tranh chấp giữa doanh nghiệp và kiểm toán, thanh tra…, rào cản ngôn ngữ sẽ là một trong những nguyên nhân gây tranh cãi nhiều nhất.

- Trong nội tại cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều ý kiến cho rằng do IFRS yêu cầu phải đánh giá lại nhiều loại tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi… nên rất khó kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt làm cho việc xác định thu nhập chịu thuế trở nên phức tạp hơn do khoảng cách giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán có thể càng ngày càng khác biệt. 

3. Đánh giá tác động đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng nguyên IFRS

IFRS hướng đến việc trình bày thông tin tài chính một cách thận trọng, đề cao sự ổn định và an toàn tài chính lên trên mục tiêu lợi nhuận. Với cách tiếp cận trên, IFRS yêu cầu ghi nhận ngay các khoản tổn thất do suy giảm giá trị tài sản, do biến động về giá trị hợp lý, do giá trị thuần có thực hiện được hoặc giá trị có thể thu hồi của tài sản thấp hơn giá trị ghi sổ…Qua khảo sát một số tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, các cấp quản lý tại các đơn vị đó đều chia sẻ mục tiêu ưu tiên hàng đầu của họ là giữ vững cái hiện đang có rồi sau đó mới là tăng trưởng lợi nhuận. Một số tập đoàn thậm chí còn không được phép đầu tư vào trái phiếu Chính phủ Việt Nam do hạn mức tín nhiệm của Việt Nam chưa đạt mức AA. Vì vậy, khi áp dụng IFRS hoặc VAS sau khi đã được sửa đổi, bổ sung, kết quả kinh doanh trình bày trên báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp có khả năng bị suy giảm do nguyên tắc thận trọng.

Mặt khác, IFRS yêu cầu đưa ra nhiều xét đoán, đánh giá mang tính chủ quan nên tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính phụ thuộc rất nhiều vào ý thức chấp hành pháp luật của Ban giám đốc, những người có trách nhiệm trình bày và công bố thông tin tài chính. Trong bối cảnh ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế thì sẽ không tránh khỏi sự tranh cãi đối với các tình huống nhạy cảm như có hay không tổn thất lợi thế thương mại, giá trị hợp lý của một số tài sản có thật sự được đánh giá tin cậy hay không…Điều này dẫn đến trong một số trường hợp, việc cố tình đưa ra các giả định xét đoán tác động rất lớn đến xu hướng lãi, lỗ của báo cáo tài chính.

Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế là xu hướng không thể đảo ngược, việc đi theo các chuẩn mực quốc tế là đòi hỏi tất yếu, khách quan. Mặc dù có những tác động đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi trình bày báo cáo tài chính theo IFRS nhưng trên bình diện chung thì những thông tin trung thực và sát với thực tế hơn sẽ góp phần bảo vệ nhà đầu tư, giảm thiểu rủi ro đối với bên cho vay cũng như mang lại thông tin hưu ích hơn cho chính bản thân doanh nghiệp và người sử dụng báo cáo tài chính.

           

4. Định hướng và lộ trình

            Việc xây dựng định hướng và lộ trình hoàn thiện Chuẩn mực kế toán tại Việt Nam cần xem xét đến các khía cạnh: Bối cảnh chung của Việt Nam; Lợi ích, khó khăn, thách thức và tác động của IFRS đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp; Đối tượng áp dụng VAS/VFRS và đối tượng áp dụng IFRS; Lộ trình ban hành và áp dụng Chuẩn mực Việt Nam và Chuẩn mực quốc tế; Biện pháp thực hiện.

 

4.1. Về định hướng chung

4.1.1. Tóm tắt các quan điểm

            Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo cơ chế thị trường, quá trình cải cách thể chế vẫn sẽ được tiếp tục thực hiện trong những năm tới đây, doanh nghiệp Việt Nam ngày phải chơi cùng một sân với các doanh nghiệp nước ngoài, mặc dù trong giai đoạn đầu áp dụng IFRS, thách thức, khó khăn gặp phải có thể nhiều hơn lợi ích thu được nhưng xét về lâu dài thì việc tuân thủ IFRS là một xu hướng tất yếu.

Hiện nay có hai quan điểm về việc hoàn thiện và phát triển Chuẩn mực Báo cáo tài chính tại Việt Nam. Cả hai quan điểm này cùng thống nhất là phải tiếp tục hoàn thiện và phát triển Chuẩn mực kế toán theo hướng của Chuẩn mực quốc tế tuy nhiên sự khác biệt là ở chỗ Việt Nam có nên tuyên bố công nhận và tuân thủ hoàn toàn IFRS hay không (Full adoption). Quan điểm thứ nhất cho rằng cần phải tiến đến việc công nhận và áp dụng nguyên mẫu IFRS cho các đơn vị có lợi ích công chúng đòng thời ban hành VAS/VFRS cho các đối tượng không có lợi ích công chúng (ngoại trừ SME có chế độ kế toán riêng). Quan điểm thứ hai cho rằng Việt Nam không tuyên bố áp dụng nguyên mẫu IFRS, tất cả doanh nghiệp (ngoại trừ SME) đều áp dụng VAS/VFRS trên cơ sở đã được cập nhật những thay đổi theo IFRS nhưng có những điều chỉnh thích hợp.

4.1.2. Về ưu, nhược điểm của từng quan điểm

Các quan điểm nêu trên đều có ưu và nhược điểm riêng, tóm tắt như sau:

a. Về quan điểm tuyên bố tuân thủ IFRS (full adoption)

 - Ưu điểm: Phù hợp với tầm nhìn lâu dài, được quốc tế thừa nhận, được thừa hưởng tất cả những lợi ích do IFRS mang lại, không phải liên tục ban hành lại VAS/VFRS khi Chuẩn mực quốc tế thay đổi, tránh được sự lạc hậu do không cập nhật, bổ sung và ban hành kịp thời VAS/VFRS.

- Nhược điểm: Nếu không có bản dịch đảm bảo chất lượng thì khi có tranh chấp sẽ khó giải quyết do phải căn cứ vào IFRS trong khi có sự khác biệt về ngôn ngữ nên có thể sẽ mất thời gian để thống nhất về cách hiểu và cách diễn đạt.

b. Về quan điểm không tuyên bố tuân thủ IFRS

- Ưu điểm: Phù hợp trong ngắn hạn, cơ sở pháp lý vững chắc hơn khi xử lý tranh chấp;

- Nhược điểm: Không đạt được mục tiêu quốc tế thừa nhận; Do VAS/VFRS không thể thực hiện cập nhật thường xuyên nên Báo cáo tài chính của các đơn vị có lợi ích công chúng sẽ liên tục bị lạc hậu so với Chuẩn mực quốc tế, những lợi ích từ IFRS sẽ không đạt được tối đa.

 

4.1.3. Về định hướng dự kiến

Mỗi quan điểm đều có những đạo lý riêng tuy nhiên xét về dài hạn thì quan điểm thứ nhất đang được nhiều người ủng hộ hơn do đây là một công việc mang tính chiến lược, lâu dài, việc hoạch định chính sách cần đảm bảo phù hợp cho tương lai hơn là cho hiện tại. Theo đó dự kiến đến 2020, Chuẩn mực kế toán Việt Nam phải được ban hành lại và ban hành mới trên cơ sở cập nhật những thay đổi của Chuẩn mực quốc tế. Ngoài ra, các đơn vị có lợi ích công chúng sẽ phải dần chuyển đổi từ VAS/VFRS sang IFRS và đến 2025 phải hoàn tất quá trình chuyển đổi.

          Như vậy, đơn vị kế toán trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh có thể thực hiện theo 1 trong các nhóm sau:

Áp dụng toàn bộ IFRS (Nhóm 1):

- Các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP HCM trong đó có lộ trình áp dụng theo từng nhóm đối tượng.

- Các doanh nghiệp tự nguyện áp dụng IFRS, bao gồm các doanh nghiệp có vốn nước ngoài cần lập báo cáo tài chính theo IFRS để hợp nhất với báo cáo tài chính của công ty mẹ ở nước ngoài hoặc các doanh nghiệp khác của Việt Nam đăng ký thực hiện theo nhu cầu quản lý và hoạt động.

- Áp dụng theo nguyên mẫu của IFRS. IFRS sẽ được Bộ Tài chính dịch ra tiếng Việt và công bố chính thức. Ngoài ra, Bộ Tài chính sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn áp dụng IFRS.

Áp dụng VAS/VFRS đã được sửa đổi theo IAS/IFRS (Nhóm 2):

- Các doanh nghiệp nhà nước,

- Công ty cổ phần, doanh nghiệp khác có quy mô vừa trở lên không thuộc đối tượng thuộc Nhóm 1.

- Áp dụng theo hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở chuẩn mực IFRS, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

- Các nội dung IFRS được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế bổ sung, sửa đổi hàng năm sẽ không cập nhật thường xuyên mà sau từ 3 – 5 năm thực hiện sẽ tổ chức đánh giá, nếu thấy cần thiết thì cập nhật 1 lần toàn bộ hệ thống chuẩn mực.

Áp dụng chế độ kế toán đơn giản (Nhóm 3):

- Doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.

- Áp dụng chế độ kế toán đơn giản, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và đảm bảo yêu cầu kê khai theo quy định của pháp luật về Thuế.

4.2. Lộ trình sửa đổi, bổ sung và cập nhật VAS theo IFRS

Tất cả các quan điểm đều thống nhất việc sửa đổi, cập nhật 26 VAS đã ban hành và ban hành bổ sung các VAS còn thiếu là công việc bắt buộc phải thực hiện do VAS đã trở nên lạc hậu so với IFRS. Dự kiến từ nay đến hết 2018, trong khi chưa áp dụng IFRS, Việt Nam phải hoàn thiện lại 26 VAS trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và cập nhật có chọn lọc những nội dung mới của IFRS phù hợp với điều kiện nền kinh tế và trình độ quản lý của Việt Nam. Ngoài ra đến 2020 cần nghiên cứu để ban hành thêm một số Chuẩn mực mà Việt Nam còn thiếu so với IFRS. Đối tượng áp dụng VAS là tất cả các doanh nghiệp ngoại trừ các đơn vị có lợi ích công chúng nếu được áp dụng IFRS. Dự kiến hiệu lực của VAS/VFRS mới sẽ được bắt đầu từ 1/1/2020, kèm theo đó sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Chuẩn mực kế toán thay thế cho Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành (Thông tư 200/2014/TT-BTC). Một số nội dung quan trọng dự kiến sẽ được cập nhật vào VAS như:

+ Bổ sung các mô hình kế toán như đánh giá lại TSCĐ, kế toán phòng ngừa rủi ro, kế toán giá trị hợp lý, tổn thất tài sản;

+ Cập nhật các thay đổi của IFRS đối với các giao dịch như hợp nhất kinh doanh, kế toán thuê tài sản, trình bày báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất…

+ Bổ sung các kỹ thuật xác định giá trị có thể thu hồi, giá trị hợp lý; Cho phép thực hiện các ước tính tương lai về dòng tiền, về các khoản lỗ của hợp đồng có rủi ro lớn…

4.3. Về lộ trình áp dụng IFRS và biện pháp thực hiện

Trong trường hợp tuyên bố tuân thủ và áp dụng IFRS tại Việt nam, phải xây dựng lộ trình cụ thể để không gây tình trạng xáo trộn quá lớn, đảm bảo tính khả thi khi thực hiện. Việc tuân thủ IFRS không phải được thực hiện ngay lập tức, có nghĩa là các đơn vị có lợi ích công chúng sẽ có một thời gian chuẩn bị để chuyển dần từ VAS/VFRS sang IFRS. Dự kiến những công việc chủ yếu phải thực hiện theo từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 2017- 2018:

+ Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia, doanh nghiệp, trường đại học về các nội dung dự thảo VAS/VFRS và IFRS,

+ Đào tạo, dịch tài liệu về IFRS;

+ Khảo sát sự sẵn sàng áp dụng IFRS tại các đơn vị có lợi ích công chúng;

+ Đánh giá tác động của việc áp dụng IFRS. Đánh giá các khác biệt về cơ chế tài chính của Việt Nam với IFRS;

+ Lựa chọn một số đơn vị áp dụng thí điểm IFRS;

Giai đoạn 2018-2020:

+ Lựa chọn một số IFRS (khoảng từ 10-20 IFRS) đơn giản phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và công bố tuân thủ, áp dụng đối với tất cả các đơn vị có lợi ích công chúng từ năm 2020; Các đơn vị được lựa chọn thí điểm áp dụng từ 2019;

+ Xây dựng hướng dẫn áp dụng IFRS;

+ Tiếp tục tuyên truyền, quảng bá, đào tạo IFRS cho các doanh nghiệp, công ty kiểm toán, trường đại học;

- Giai đoạn 2020 đến 2021:

+ Tiếp tục công bố, tuân thủ thêm một số IFRS (dự kiến nâng số lượng IFRS được tuân thủ lên 30 Chuẩn mực)

+ Khuyến khích các đơn vị không có lợi ích công chúng nhưng có đủ điều kiện và mong muốn được lập và trình bày Báo cáo tài chính theo IFRS;

+ Tiếp tục xây dựng hướng dẫn áp dụng IFRS;

+ Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc triển khai áp dụng, các trường đại học trong việc đào tạo IFRS

- Giai đoạn 2021-2022:

            + Tuyên bố tuân thủ hoàn toàn IFRS;

            + Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp và trường đại học, xây dựng hoàn chỉnh bộ hướng dẫn áp dụng IFRS và sửa đổi, bổ sung, cập nhật hàng năm theo sự thay đổi của quốc tế.

            - Do nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt, quyết định đến sự thành công trong việc áp dụng IFRS tại Việt Nam nên công tác tuyên truyền, phổ biến và đào tạo IFRS cho các chuyên gia, giảng viên, kiểm toán viên và kế toán viên tại các doanh nghiệp về IFRS là cực kỳ quan trọng.Bộ Tài chính sẽ đề nghị các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB, EU, JICA…(ít nhất là từ nay đến 2020) cung cấp các chương trình hỗ trợ kỹ thuật dài hạn để giúp Việt Nam lựa chọn các IFRS áp dụng theo lộ trình và đào tạo IFRS cho nhiều đối tượng rộng khắp trên phạm vi toàn quốc.

Ngoài ra, Bộ Tài chính sẽ biên dịch IFRS từ tiếng Anh sang tiếng Việt để làm căn cứ thực hiện và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đối tượng nghiên cứu, áp dụng. Các doanh nghiệp, trường đại học hội nghề nghiệp như VAA, VACPA cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong quá trình thực hiện bằng cách phản ánh kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh, xây dựng lại giáo trình và đổi mới phương pháp đào tạo, tổ chức nhiều khóa cập nhật kiến thức cho kiểm toán viên, kế toán viên hành nghề.