Quyết định phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính tại Việt Nam

Ngày đăng: 16/03/2020 - Lượt xem: 5289 (lần)
Hôm nay, ngày 16 tháng 3 năm 2020 Bộ Tài chính đã chính thức ban hành Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính tại Việt Nam.

PHƯƠNG ÁN, LỘ TRÌNH VÀ NHỮNG CÔNG VIỆC DOANH NGHIỆP CẦN CHUẨN BỊ ĐỂ ÁP DỤNG IFRS TẠI VIỆT NAM

 

1.    Bối cảnh và sự cần thiết xây dựng lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại, riêng biệt của từng quốc gia. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu đa dạng của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư, các quốc gia thường cho phép các doanh nghiệp lựa chọn Chuẩn mực BCTC quốc gia hoặc Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) khi lập và trình bày BCTC. Theo tài liệu của Ủy ban Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IASB), tính đến nay đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93% các nước được IASB khảo sát) đã tuyên bố về việc cho phép áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau. 

Phương pháp áp dụng IFRS tại các quốc gia rất đa dạng, có quốc gia cho phép áp dụng cho cả BCTC riêng của doanh nghiệp và BCTC hợp nhất của tập đoàn, nhưng có quốc gia chỉ áp dụng IFRS cho BCTC hợp nhất. Với các nước chưa cho phép doanh nghiệp áp dụng IFRS thì cũng đang trong xu thế điều chỉnh hệ thống chuẩn mực BCTC quốc gia để phù hợp và tiệm cận gần hơn với IFRS. Việc cho phép áp dụng IFRS hay không tùy thuộc vào điều kiện phát triển và tình hình thực tế của từng quốc gia. Tuy nhiên định hướng chung là áp dụng IFRS cho các đơn vị có lợi ích công chúng, còn đối với các đơn vị không có lợi ích công chúng thì thường áp dụng chuẩn mực BCTC quốc gia hoặc có thể tự nguyện áp dụng IFRS.

Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2005, Việt Nam đã ban hành 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) bằng cách vận dụng có chọn lọc các quy định của chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện nền kinh tế và trình độ quản lý trong nước. Tuy nhiên, do đã được ban hành cách đây hơn 10 năm mà chưa được sửa đổi, bổ sung nên VAS ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, một số nội dung chưa phù hợp với các giao dịch của kinh tế thị trường trong giai đoạn mới, nhất là trong bối cảnh thị trường vốn phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều loại công cụ tài chính phức tạp. Hơn nữa, hiện nay Việt Nam mới ban hành được 26 VAS nên còn thiếu rất nhiều chuẩn mực so với thông lệ quốc tế như các chuẩn mực về nông nghiệp, về thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản, về nhóm công cụ tài chính phái sinh, về giá trị hợp lý, về tổn thất tài sản,… dẫn đến khi các doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch kinh tế thuộc nhóm các chuẩn mực này thì chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện hạch toán kế toán dẫn đến khó khăn cho công tác kế toán của doanh nghiệp.

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình cải cách hành chính và thể chế một cách mạnh mẽ, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên sôi động, nhu cầu các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết hoặc thu hút vốn trên thị trường nước ngoài ngày càng gia tăng. Đặc biệt thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài đến tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Từ thực tế nêu trên, để đáp ứng yêu cầu quản lý của nền kinh tế trong giai đoạn mới, Chính phủ có chủ trương  phải xây dựng phương án, lộ trình công bố để áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới cũng như công cuộc cải cách thể chế tại Việt Nam.

2.    Lợi ích của việc áp dụng IFRS

- Trong bối cảnh kế toán được xem như là một ngôn ngữ kinh doanh toàn cầu thì việc cho phép áp dụng IFRS sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà nước, chủ sở hữu, nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài có công cụ để đánh giá và so sánh thông tin tài chính giữa các đơn vị theo cùng một ngôn ngữ, chuẩn mực chung để đưa ra các quyết định kinh tế một cách phù hợp. Một trong những lý do Việt Nam hiện nay chưa được công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường do hệ thống chuẩn mực BCTC để phản ánh các giao dịch kinh tế của các doanh nghiệp hiện còn chưa đầy đủ và lạc hậu so với thông lệ quốc tế. Vì vậy, việc cho phép áp dụng IFRS tại Việt Nam sẽ là góp phần để cộng đồng quốc tế sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ, từ đó khơi thông dòng vốn FDI, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc bảo vệ các nhà đầu tư và tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. 

- Việc áp dụng IFRS sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết trên thị trường quốc tế hoặc nhận được các khoản vay ưu đãi từ các định chế tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB… Các doanh nghiệp FDI là công ty con của các tập đoàn xuyên quốc gia sẽ không còn phải mất thêm chi phí để chuyển đổi BCTC sang IFRS cho mục đích hợp nhất BCTC với công ty mẹ ở nước ngoài. 

- Việc áp dụng IFRS sẽ tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho việc kế toán nhiều loại công cụ tài chính, tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý. Việc xây dựng các quy định cụ thể về công cụ tài chính, giao dịch phái sinh tác động mạnh mẽ đến cả thị trường sơ cấp (thị trường phát hành công cụ tài chính) và thị trường thứ cấp (thị trường giao dịch). Đối với thị trường sơ cấp, các ngân hàng và tổ chức tài chính có căn cứ pháp lý rõ ràng để hạch toán các loại công cụ tài chính được phát hành mới như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi. Đối với thị trường thứ cấp, hệ thống chuẩn mực BCTC về công cụ tài chính được ban hành đầy đủ sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư vào các công cụ tài chính phái sinh như một loại chứng khoán trên sàn giao dịch tập trung. Đặc biệt, việc áp dụng IFRS là một trong những yếu tố để nâng hạng cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

- Việc áp dụng IFRS sẽ nâng cao tính minh bạch và trung thực của báo cáo tài chính, giúp bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư do IFRS yêu cầu các khoản mục của BCTC phải được ghi nhận và trình bày theo bản chất hơn là hình thức hay tên gọi của giao dịch, vì vậy sẽ giảm thiểu tác động của hình thức giao dịch đến phương pháp kế toán, từ đó làm tăng khả năng so sánh giữa BCTC của doanh nghiệp tại Việt Nam với các doanh nghiệp khác trong khu vực và thế giới.

- IFRS yêu cầu trình bày và thuyết minh chi tiết về những rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải như rủi ro kinh doanh, rủi ro tín dụng, rủi ro chính sách…, nhằm cung cấp thông tin đầy đủ hơn cho các nhà đầu tư, chủ nợ khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp.  IFRS cũng yêu cầu áp dụng nhiều mô hình tài chính để xác định giá trị tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi, giá trị sử dụng, giá trị thời gian, giá trị nội tại… Vì vậy, thông tin tài chính được cung cấp trên nền tảng IFRS sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được tình hình tài chính tại thời điểm báo cáo cũng như giúp Ban giám đốc có được những thông tin phục vụ tốt hơn cho việc dự báo kết quả hoạt động và dòng tiền trong tương lai, từ đó có căn cứ và công cụ để thực hiện công tác quản trị, điều hành phù hợp với tình hình thực tiễn.

Khi áp dụng IFRS, các doanh nghiệp sẽ phát sinh một số chi phí đầu tư ban đầu phục vụ cho việc đào tạo lại nguồn nhân lực cũng như thay đổi hệ thống thông tin, phần mềm kế toán. Mặc dù các chi phí đầu tư ban đầu là tương đối lớn nhưng xét về lâu dài thì những lợi ích từ việc minh bạch hóa thông tin, thu hút nhà đầu tư không những sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn các chi phí ban đầu mà còn giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững.

3. Phương án và lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam

Việc xây dựng phương án, lộ trình công bố áp dụng IFRS phải phù hợp với yêu cầu cải cách trong quản lý tài chính – ngân sách; phù hợp với xu hướng phát triển của các doanh nghiệp; đảm bảo ổn định hệ thống tài chính, tiền tệ; đảm bảo tính khả thi trong công tác quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và khả năng thực hiện của doanh nghiệp, mang lại hiệu quả thiết thực. Để áp dụng IFRS tại Việt Nam, Bộ Tài chính đã và đang thực hiện rất nhiều công việc như dịch IFRS ra tiếng việt (dự kiến hoàn thành trong năm 2020); Nghiên cứu, xây dựng Thông tư về cách thức áp dụng IFRS (dự kiến ban hành trong năm 2021); Đào tạo nguồn nhân lực...Ngoài ra, Bộ Tài chính đã dự thảo phương án áp dụng IFRS cho từng giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1, áp dụng tự nguyện (2022 đến 2025):

(1) Đối với báo cáo tài chính hợp nhất: 

Các doanh nghiệp sau có nhu cầu và đủ nguồn lực, thông báo cho Bộ Tài chính trước khi tự nguyện áp dụng IFRS để lập báo cáo tài chính hợp nhất:

- Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước quy mô lớn hoặc có các khoản vay được tài trợ bởi các định chế tài chính quốc tế;

- Công ty mẹ là công ty niêm yết;

- Công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ chưa niêm yết;

- Các công ty mẹ khác.

(2) Đối với báo cáo tài chính riêng:

- Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là công ty con của công ty mẹ ở nước ngoài có nhu cầu và đủ nguồn lực, thông báo cho Bộ Tài chính trước khi tự nguyện áp dụng IFRS để lập báo cáo tài chính riêng.

Giai đoạn 2, áp dụng bắt buộc (sau năm 2025):

(1) Đối với báo cáo tài chính hợp nhất:

- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện áp dụng IFRS của giai đoạn 1, Bộ Tài chính căn cứ nhu cầu, khả năng sẵn sàng của các doanh nghiệp và tình hình thực tế, quy định phương án, thời điểm bắt buộc áp dụng IFRS để lập báo cáo tài chính hợp nhất cho từng nhóm doanh nghiệp thuộc các đối tượng cụ thể sau:

+ Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước;

+ Công ty mẹ là công ty niêm yết;

+ Công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ chưa niêm yết;

+ Công ty mẹ quy mô lớn khác.

- Các công ty mẹ khác không thuộc đối tượng bắt buộc áp dụng nêu trên có nhu cầu và đủ nguồn lực, thông báo cho Bộ Tài chính trước khi tự nguyện áp dụng IFRS để lập báo cáo tài chính hợp nhất.

(2) Đối với báo cáo tài chính riêng:

- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện áp dụng IFRS của giai đoạn 1, Bộ Tài chính căn cứ nhu cầu, khả năng sẵn sàng của các doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và tình hình thực tế, quy định phương án, thời điểm áp dụng bắt buộc hoặc áp dụng tự nguyện IFRS để lập báo cáo tài chính riêng cho từng nhóm đối tượng, đảm bảo tính hiệu quả và khả thi.

Yêu cầu và cách thức áp dụng IFRS: 

- Doanh nghiệp phải trình bày, thuyết minh chi tiết trong báo cáo tài chính đối với các nội dung khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế (nếu có). Doanh nghiệp thực hiện việc kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Ngoài ra, doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và giải trình rõ ràng, minh bạch với cơ quan thuế, cơ quan quản lý, giám sát và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước.

- Doanh nghiệp tự nguyện (hoặc thuộc đối tượng bắt buộc) áp dụng IFRS cho việc lập báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính riêng sẽ được miễn lập báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính riêng theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam. Như vậy, báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính riêng đã lập theo IFRS sẽ là báo cáo pháp lý để công bố, công khai theo pháp luật kế toán Việt Nam. 

- Doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng IFRS phải áp dụng tất cả các IFRS đã có hiệu lực theo quy định của Ủy ban Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IASB) tại cùng một thời điểm. Khi IASB có sự sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các IFRS thì cần phải kịp thời công bố bản dịch để thống nhất triển khai cho các đơn vị thuộc đối tượng áp dụng.

- Doanh nghiệp áp dụng tự nguyện hoặc áp dụng bắt buộc IFRS theo nguyên tắc nhất quán trong cả năm tài chính. Báo cáo tài chính của doanh nghiệp lập theo IFRS là báo cáo chính thức của doanh nghiệp.

- Bộ Tài chính ban hành các tiêu chí, hướng dẫn để đánh giá các thông tin tài chính của doanh nghiệp, đảm bảo tính so sánh giữa doanh nghiệp áp dụng IFRS và doanh nghiệp không áp dụng IFRS.

- Bộ Tài chính công bố danh sách doanh nghiệp tự nguyện hoặc bắt buộc áp dụng IFRS lập báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính riêng trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính. 

4. Những công việc doanh nghiệp cần chuẩn bị để áp dụng IFRS thành công

Việc áp dụng IFRS là một công việc lớn, đòi hỏi sự chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng của doanh nghiệp. Để áp dụng IFRS thành công và hiệu quả, doanh nghiệp cần triển khai đồng bộ 7 nhóm công việc chủ chốt, bao gồm:

 

(1) Xây dựng chiến lược và ngân sách

- Xác định nhu cầu áp dụng IFRS; Xác định phương án, lộ trình cụ thể áp dụng cho doanh nghiệp của mình; Công bố thông tin về lộ trình, phương án áp dụng;

- Ban lãnh đạo doanh nghiệp tích cực tham gia trong suốt quá trình triển khai áp dụng IFRS;

- Thiết lập kênh thông tin với cơ quan hoạch định chính sách, công ty kiểm toán, hội nghề nghiệp, nhà tư vấn;

- Xây dựng chính sách kế toán rõ ràng, nhất quán giữa công ty mẹ và các công ty con; phân định ranh giới giữa BCTC và báo cáo thuế, báo cáo quản trị nội bộ;

- Bố trí ngân sách cho từng công việc cần triển khai.

(2) Đào tạo nguồn nhân lực

- Trang bị kiến thức, hiểu biết cơ bản về tài chính cho Ban giám đốc, cán bộ quản lý chủ chốt; Thay đổi tư duy lãnh đạo, nâng cao ý thức tuân thủ, tổ chức bộ phận pháp chế tại các doanh nghiệp đủ mạnh.

- Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực kịp thời, bài bản, liên tục và lâu dài cho bộ phận kế toán, tài chính và cho cả các bộ phận khác có liên quan, như hoạch định chiến lược, kinh doanh, bán hàng,…;

- Tận dụng kiến thức, hiểu biết, sự hỗ trợ và nguồn lực từ các công ty kiểm toán, tư vấn, nhà đầu tư nước ngoài, hội nghề nghiệp

(3) Tổ chức bộ máy kế toán và xây dựng quy chế phối hợp giữa các bộ phận 

- Tổ chức bộ máy kế toán phù hợp, thông suốt từ công ty mẹ đến công ty con và các đơn vị trực thuộc; Có nhân lực chuyên trách về IFRS và BCTC hợp nhất; 

- Bộ phận tài chính, kinh doanh, bán hàng có quan hệ chặt chẽ với bộ phận kế toán để đảm bảo cung cấp thông tin về mô hình kinh doanh, hợp đồng kinh tế, dữ liệu tài chính.

- Tổ chức bộ máy soát xét, kiểm tra, kiểm toán nội bộ; Chuẩn bị dữ liệu để giải trình với cơ quan quản lý, giám sát Nhà nước khi có yêu cầu

(4) Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin

- Đảm bảo hiệu quả, hiệu lực của công tác quản trị nội bộ;

- Đảm bảo kết nối giữa bộ phận kế toán, tài chính và các bộ phận khác

- Đảm bảo kết nối giữa công ty mẹ và các công ty con, đơn vị trực thuộc;

- Phần mềm kế toán cần tự động hóa ở mức cao, hướng đến có thể cung cấp báo cáo tài chính ở bất cứ thời điểm nào

(5) Xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu

- Xây dựng cơ sở dữ liệu định giá và mô hình tài chính, như: Giá trị hợp lý, đường cong lãi suất, lãi suất cố định và lãi suất thả nổi, Lãi suất VND và lãi suất ngoại tệ; Giá cả thị trường và giá trị hợp lý; Tỷ giá hối đoái…

- Xây dựng dữ liệu phi tài chính, như: thị phần, số lượng khách hàng, dung lượng sử dụng, mức tiêu thụ dịch vụ, sản phẩm, hàng hóa; Thị trường thuận lợi nhất; Tỷ lệ sản phẩm bảo hành…

(6) Xây dựng quy trình chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS

- Nhận diện các giao dịch, khoản mục trên BCTC cần chuyển đổi;

- Xây dựng hệ thống hồ sơ, dữ liệu mang tính kế thừa;

- Quy định trách nhiệm chuyển đổi BCTC phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp mình;

- Xây dựng bộ quy tắc chuyển đổi BCTC với hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp mình;

(7) Chuẩn bị nền tảng kỹ thuật cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo IFRS

-  Xác định các đơn vị tạo tiền của doanh nghiệp;

- Đối với TSCĐ và BĐSĐT: Phân loại rõ những loại TSCĐ, BĐSĐT cần đánh giá lại định kỳ;

- Đối với các tài sản dài hạn: Rà soát những tài sản tiếp tục sử dụng và nắm giữ để thanh lý để tái phân loại

- Đối với các tài sản được ghi nhận theo FV: Chuẩn bị dữ liệu phù hợp với các phương pháp định giá, đặc biệt chú ý các tài sản không có giá niêm yết; 

- Thường xuyên đánh giá lại độ tin cậy của các ước tính, như khả năng thu hồi nợ, thị phần, sự suy giảm giá trị của các tài sản, 

- Thường xuyên đánh giá và tăng cường quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường

- Thường xuyên rà soát các quy định về thuế để xác định các trường hợp có sự khác biệt giữa chính sách thuế và Chuẩn mực kế toán;

- Rà soát các hợp đồng thuê tài sản (thuê hoạt động), tiến hành phân loại hợp đồng thuê tài sản và hợp đồng thuê sử dụng dịch vụ;

- Rà soát lại mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con đảm bảo quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con; Định hướng việc cung cấp thông tin tài chính tại  các công ty con, liên doanh, liên kết theo  cơ sở tài sản thuần;

- Các doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nước rà soát lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, xác định rõ những khoản mục cần hoãn lại theo luật định;

- Các doanh nghiệp lĩnh vực nông nghiệp: Sắp xếp, phân loại rõ TSCĐ, tài sản sinh học và hàng tồn kho là sản phẩm của hoạt động nông nghiệp;

- Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khai khoáng cần xác định trữ lượng và giá trị tài nguyên dưới lòng đất; xây dựng dữ liệu về chi phí hoàn nguyên môi trường;

- Ngân hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm chuẩn bị dữ liệu theo yêu cầu của IFRS 07, 09 và 17;

- Các doanh nghiệp có hoạt động đầu tư xây dựng tài sản dở dang sử dụng vốn vay ngoại tệ cần xác định chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ.

 

Toàn bộ nội dung chi tiết của Quyết định 345/QĐ-BTC và Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam được chúng tôi đính kèm bên dưới. Quý đọc giả quan tâm, vui lòng bấm vào liên kết tải về tham khảo!

 

Quyết định 345/QĐ-BT

Đề án đã phê duyệt ngày 16.03.2020