Áp dụng IFRS tại các nước và kinh nghiệm cho Việt Nam

Ngày đăng: 02/03/2017 - Lượt xem: 790 (lần)
Ths. Nguyễn Thị Thu Vân; Ths. Nguyễn Thị Phước; Ths. Hoàng Thụy Diệu Linh Khoa Kế toán – Kiểm toán, Đại học Văn Lang

 

Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hầu như các nước đều đã áp dụng Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) để lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC). Trong khi các nước trên thế giới đã áp dụng IFRS từ năm 2005, Việt Nam vẫn đang trong quá trình xem xét cách thức áp dụng IFRS cho phù hợp bối cảnh nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn chuyển đổi và cũng chưa có lộ trình áp dụng IFRS cụ thể. Bài viết, trình bày quá trình áp dụng IFRS của các nước, từ đó rút ra một số khuyến nghị để Việt Nam áp dụng IFRS như cần có lộ trình thực hiện, từ khuyến khích đến dần bắt buộc; lựa chọn một số loại hình công ty như công ty có vốn nước ngoài, công ty đại chúng có niêm yết để bắt đầu thực hiện; lựa chọn một số IFRS phù hợp với điều kiện của Việt Nam để áp dụng trước; nhờ tư vấn của chuyên gia từ các nước đã có áp dụng IFRS; ban hành thêm một số chuẩn mực mới phù hợp IFRS; tăng cường vị thế của hiệp hội nghề nghiệp; nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện...

 

Từ khóa: IFRS, IASB, VAS, Áp dụng IFRS tại Việt Nam (Adopt IFRS in Vietnam)

 

Tiến trình áp dụng IFRS ở các nước

Các nước Châu Âu 

Liên minh Châu Âu (European Union – EU) bắt đầu áp dụng IFRS đối với BCTC hợp nhất của những công ty niêm yết ở EU từ năm 2005, sau đó khuyến khích mở rộng áp dụng cho các công ty khác.Việc áp dụng này được quy định thành luật và áp dụng đối với tất cả các nước thành viên. Hiện tại, IFRS được áp dụng cho các công ty trong lĩnh vực công nghiệp; các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và công ty chứng khoán; các công ty con mà có công ty mẹ niêm yết ở thị trường ngoài EU; các công ty trong 2 năm liên tục có điều kiện về doanh thu trên 10 tỷ euro/năm và số lượng nhân viên bình quân trên 100 người/năm. Trong tương lai, EU có kế hoạch tiến tới áp dụng IFRS cho những công ty nhỏ và vừa (PWC, 2015).

Mỹ

Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế mạnh và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu, do đó Mỹ muốn xây dựng CMKT quốc tế chất lượng cao, qua đó giúp thông tin có thể so sánh được trên BCTC của các quốc gia và Mỹ. Từ năm 2002, thỏa thuận Norwalk được ký kết giữa IASB và Hội đồng CMKT Mỹ (FASB) nhằm hợp tác xây dựng CMKT quốc tế áp dụng cho các nước. Tại Mỹ, các công ty lập BCTC tuân thủ theo CMKT Mỹ (US GAAP) do FASB ban hành, bên cạnh đó, các công ty niêm yết còn phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC). Hiện nay, Mỹ chưa có quy định yêu cầu lập BCTC theo IFRS đối với công ty trong nước, riêng các công ty tư nhân nước ngoài được phép áp dụng IFRS để lập BCTC.

Tháng 11/2008, SEC đưa ra văn bản dự thảo lộ trình hòa hợp IFRS. Đến tháng 2/2010, SEC tái khẳng định cam kết hướng tới một hệ thống chuẩn mực BCTC toàn cầu và đưa ra kế hoạch làm việc, trong đó chỉ ra 6 yếu tố cần xem xét để SEC có thể kết hợp các IFRS vào BCTC của Mỹ là phát triển đầy đủ IFRS và áp dụng cho hệ thống báo cáo trong nước; sự độc lập của cơ quan ban hành chuẩn mực vì lợi ích của nhà đầu tư; nhận thức của nhà đầu tư về IFRS; môi trường pháp lý; tác động của các tổ chức ban hành quy định; và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, đến tháng 7/2012, SEC vẫn chưa có quyết định về việc kết hợp IFRS vào hệ thống BCTC của Mỹ (SEC, 2008), (SEC, 2010). Gần đây, SEC công bố bản dự thảo chiến lược giai đoạn 2014- 2018 đưa ra mục tiêu đạt được một hệ thống CMKT có chất lượng tốt hơn và áp dụng toàn cầu với nhiều sáng kiến được đưa ra để thực hiện mục tiêu trên nhưng SEC không đề cập cụ thể đến việc áp dụng IFRS(SEC, 2012), (SEC, 2014).

Dự án hòa hợp CMKT giữa IASB và Hội đồng CMKT Mỹ (FASB) đã có một số kết quả như các IFRS mới được ban hành và sự thay đổi trong quy định của FASB, gần đây nhất là hướng dẫn ghi nhận doanh thu kết hợp IFRS15 công bố vào tháng 5/2014 có hiệu lực từ 1/1/2017. Tuy nhiên, sau khi công bố IFRS 15, kế hoạch hòa hợp các chuẩn mực về công cụ tài chính, thuê tài sản và một số nội dung khác đã bị ngừng. Việc áp dụng IFRS tại Mỹ chậm trễ có nhiều nguyên nhân như do chưa hòa hợp được giữa hai cơ quan IASB và FASB, do SEC tập trung ban hành những luật khác cần thiết hơn, cũng như do áp dụng IFRS ngay sẽ không thích hợp với các quy định lập BCTC ở các thị trường vốn khác.

Mặc dù, IASB và FASB thể hiện thiện chí hòa hợp US GAAP và IFRS, nhưng do chưa có lộ trình rõ ràng và Mỹ cũng chưa khẳng định sẽ hòa hợp IFRS nên dự án làm việc giữa IASB và FASB sau khi có được một số kết quả nhất định đã tạm dừng cho thấy còn nhiều vấn đề cần giải quyết để có thể hòa hợp hai hệ thống CMKT của Mỹ và IFRS.

Trung Quốc

Trung Quốc chưa có quy định yêu cầu áp dụng IFRS đối với các công ty niêm yết cũng như các loại hình DN khác. Các DN ở Trung Quốc lập BCTC theo CMKT trung quốc (CAS). Các CAS không được dịch trực tiếp từ IFRS mà được viết lại theo cách dễ hiểu đối với người đọc. CAS vẫn tuân thủ theo IFRS về mặt nguyên tắc, nhưng nội dung không giống IFRS hoàn toàn (PWC, 2015). Nhìn chung, CMKT của Trung Quốc được ban hành năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã hòa hợp đáng kể với các nguyên tắc của IFRS.

Trong giai đoạn trước năm 2008, Trung Quốc có quy định yêu cầu các tổ chức định chế tài chính lập BCTC theo IFRS để bổ sung kèm theo BCTC theo CAS. Từ năm 2008, yêu cầu này đã bị hủy bỏ, thay vào đó, các công ty tại Trung Quốc phải phát hành BCTC theo IFRS nếu niêm yết trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán Trung Quốc phát hành cổ phiếu loại “B” (cổ phiếu này được giao dịch bằng đô la Mỹ và được mua bởi những nhà đầu tư nước ngoài không phải Trung Quốc) có khoảng 110 công ty thuộc loại này, trong khi đó có khoảng 1.100 công ty phát hành cổ phiếu loại A (cổ phiếu được bán bằng đồng Nhân dân tệ và được mua bởi những nhà đầu tư Trung Quốc) áp dụng CMKT Trung Quốc(Pacter, 2005)

Bộ Tài chính, tổ chức ban hành CMKT Trung Quốc, đang tiếp tục sửa đổi CAS theo hướng phù hợp hơn với IFRS. Tuy nhiên, cơ quan này chưa thông báo bất kỳ kế hoạch nào nhằm áp dụng trực tiếp các IFRS tại Trung Quốc. Như vậy, tại Trung Quốc việc áp dụng IFRS được thực hiện thông qua quá trình ban hành và kết hợp vào hệ thống CMKT quốc gia. Trung Quốc vẫn chưa cho phép áp dụng trực tiếp các IFRS để lập BCTC. 

Hồng Kông

Từ tháng 01/2005 Hội đồng CMKT (FASC) thuộc Viện kế toán Hồng Kông (HKICPA) ban hành chuẩn mực BCTC Hồng Kông (HKFRS) trên cơ sở áp dụng gần như toàn bộ IFRS(Pacter, 2005).HKFRS không áp dụng cho các hoạt động phi lợi nhuận, khu vực tư nhân, khu vực công và Nhà nước. Năm 2010, Hồng Kông ban hành chuẩn mực BCTC dành cho các công ty tư nhân Hồng Kông (HKFRS for Private Entities). Bên cạnh đó, HKICPA còn ban hành Chuẩn mực BCTC dành cho các DN vừa và nhỏ như vậy, Hồng Kông là một trong những nước thông qua toàn bộ IFRS từ rất sớm và cũng ban hành CMKT phù hợp với các loại hình DN đặc trưng tại quốc gia.   

Úc và NewZealand

Tương tự với Hồng Kông, Úc và New Zealand cũng thông qua gần như toàn bộ IFRS từ rất sớm (Pacter, 2005). Năm 2005, Ủy ban CMKT Úc (AASB) ban hành Australian GAAP (A-IFRS) dựa trên cơ sở thông qua toàn bộ IFRS. Các công ty niêm yết ở Úc và tất cả loại hình còn lại, ngoại trừ những công ty rất nhỏ không niêm yết, đều phải áp dụng IFRS.So sánh giữa A-IFRS và IFRS cho thấy, AASB  bỏ bớt một vài khoản mục trong IFRS, đồng thời bổ sung thêm một số khoản mục mới áp dụng phù hợp với tổ chức chính phủ hoặc tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận(Deloitte, 2005).

Năm 2005, New Zealand cũng ban hành New Zealand GAAP dựa trên cơ sở theo sát IFRS, tuy nhiên, New Zealand chỉ dừng ở mức độ cho phép sử dụng New Zealand GAAP mà chưa yêu cầu các DN phải báo cáo theo New Zealand GAAP. 

Như vậy, cả Úc và NewZealand mặc dù đã thông qua gần như toàn bộ IFRS, nhưng vẫn có sự chỉnh sửa cho tương thích với môi trường pháp lý và những đặc điểm riêng biệt của quốc gia. 

Singapore

Năm 2001, Singapore thành lập Ủy ban CMKT (ASC) và ASC đã đề xuất áp dụng chuẩn mực IFRS như là khuôn mẫu BCTC Singapore (IFRS, 2016 ). Kể từ năm 2002, Singapore ban hành chuẩn mực BCTC của Singapore (SFRS) dựa trên cơ sở IFRS, áp dụng cho các công ty niêm yết trên sàn giao dịch Singapore. Năm 2009, ASC đưa ra chiến lược sửa đổi SFRS theo hướng tương đồng với IFRS để áp dụng cho những công ty niêm yết ở Singapore. Năm 2012, ASC lập kế hoạch sẽ áp dụng hoàn toàn IFRS và quyết định mốc thời gian áp dụng. Ngày 29/5/2014, ASC thông báo những công ty niêm yết ở Singapore sẽ áp dụng khuôn mẫu BCTC mới giống như IFRS cho năm tài chính bắt đầu 01/01/2018. Những công ty không niêm yết có thể tự nguyện áp dụng IFRS cùng thời điểm trên (Hans Hoogervorst 2014).

Nhìn chung, Singapore đã có quá trình xem xét để áp dụng IFRS khá dài, Singapore chưa áp dụng hoàn toàn IFRS ngay từ đầu mà có sửa đổi cho phù hợp và chỉ áp dụng trước cho những công ty niêm yết, sau đó mới áp dụng cho những công ty khác.

Indonesia

Trước 2008, CMKT Indonesia (PSAK) do Hội đồng CMKT Indonesia (DSAK) thuộc Hội Kế toán công chứng Indonesia (IAI) ban hành dựa trên cơ sở CMKT Mỹ. Ngày 01/01/2009, Viện Kế toán Indonesia tuyên bố lộ trình thông qua hoàn toàn IFRS sẽ hoàn tất vào năm 2012 bằng việc ban hành CMKT Indonesia - SAK hay Indonesia GAAP hoàn toàn tương đồng với IFRS(Wahyuni, 2011). Áp lực của Indonesia phải thông qua IFRS càng gia tăng khi Indonesia là quốc gia duy nhất trong khối các nước Đông Nam Á được gia nhập G20, mà tuân thủ IFRS là một trong những cam kết khi gia nhập G20. Hiện tại, theo đánh giá mức độ hòa nhập của CMKT Indonesia và IFRS thì CMKT Indonesia còn nhiều điểm khác biệt và không có chuẩn mực tương đương với IFRS (IFRS, 2016) và Indonesia vẫn chưa có tuyên bố kế hoạch tiếp theo để thông qua hoàn toàn IFRS.

Malaysia

Năm 2008, Hội đồng CMKT Malaysia (MASB) chính thức tuyên bố về việc thông qua IFRS, dự kiến kế hoạch này sẽ hoàn thành vào năm 2012 (Hanefah, 2012). Từ thời điểm đó trở đi, MASB và Viện kế toán Malaysia (MIA) thực hiện nhiều bước chuẩn bị cho tiến trình áp dụng IFRS như đào tạo, huấn luyện lực lượng kế toán viên và kiểm toán viên có hiểu biết về IFRS nhằm đảm bảo quá trình áp dụng IFRS thành công. Ngày 19/11/2011, MASB ban hành khung CMKT thứ 3 tuân thủ theo IFRS nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm riêng của Malaysia và đặt tên là chuẩn mực BCTC Malaysia (MFRS), bắt đầu áp dụng từ 01/01/2012.Việc ban hành MFRS đã thể hiện cam kết của Malaysia trong tiến trình thông qua IFRS và MFRS trở thành chuẩn mực đáng tin cậy trong việc hướng dẫn cho các công ty niêm yết lập BCTC tuân theo IFRS.

Các công ty tại Malaysia hoạt động dựa vào bộ 3 khuôn khổ kế toán. Thứ nhất là khung chuẩn mực BCTC cũ (FRS) được ban hành dựa vào IAS, thứ 2 là khung chuẩn mực báo cáo dành cho các tổ chức tư nhân (Private Entity Reporting Standards framework – PERS) và cuối cùng là khung chuẩn mực BCTC Malaysia (MFRS). Bộ ba khuôn khổ này đều do MASB ban hành và được các tổ chức áp dụng ở Malaysia tùy thuộc vào từng loại hình tổ chức.

PERS chỉ được áp dụng bởi các công ty tư nhân, ngoại trừ những công ty đang chuyển đổi là những công ty tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp, bất động sản thuộc phạm vi điều chỉnh của MFRS 141 tương đương IAS 41 và IC Interpretion 15 tương đương IFRIC 15. Công ty tư nhân theo định nghĩa của Hội đồng CMKT Malaysia là DN hoạt động theo Luật công ty 1965, không buộc phải chuẩn bị và phát hành BCTC theo Luật của Ủy ban chứng khoán Malaysia hay Ngân hàng Negara Malaysia. Công ty tư nhân cũng không phải là công ty con, công ty liên doanh, liên kết bị kiểm soát bởi công ty khác bị buộc phải chuẩn bị và phát hành BCTC theo Luật của Ủy ban chứng khoán Malaysia hay Ngân hàng Negara Maylaysia.Tuy nhiên, từ 01/01/2013 trở đi, các công ty đang chuyển đổi này bị buộc chuyển sang MFRS. Malaysia không yêu cầu IFRS cho SMEs vì không đủ nguồn lực cho việc thực hiện.

Còn MFRS được áp dụng cho tất cả loại hình công ty, trừ công ty tư nhân. 

MASB cùng với sự trợ giúp của Tổ chức thiết lập chuẩn mực Châu Á- Châu Đại Dương (Asia- Oceanic Standards Setters Group -AOSSG) làm cho lộ trình thông qua IFRS diễn ra dễ dàng hơn khi thực hiện thành công nhiều buổi thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm giữa các nhóm nước “không tuân thủ IFRS” và “tuân thủ IFRS” như kinh nghiệm áp dụng của Úc vào năm 2005, của New Zealand năm 2007 và của Hàn Quốc năm 2011, làm cơ sở cho sự phát triển MFRS. Tuy tiến trình áp dụng IFRS của Malaysia là chậm và đều hơn so với nước đang thực hiện thông qua IFRS một cách nhanh chóng như Úc, Hồng Kông nhưng CMKT Malaysia hoàn toàn theo sát CMKT quốc tế IFRS.

Trong quá trình thông qua IFRS, Malaysia cũng gặp nhiều thách thức như việc thu nhập, chuẩn bị, trình bày thông tin làm phát sinh chi phí nhiều hơn lợi ích mang lại. Malaysia đã và đang thực hiện những bước chậm và theo hướng đúng đắn trên con đường áp dụng IFRS, khi kế thừa và xây dựng chính sách kế toán quốc gia vững mạnh, đồng thời nâng cao giáo dục, đào tạo những người hành nghề trong lĩnh vực kế toán, thúc đẩy sự phát triển các hiệp hội kinh doanh cũng như kế toán, là chìa khóa quan trọng cho tiến trình thông qua hoàn toàn IFRS.

Thái Lan

Năm 1997, Liên đoàn kế toán Thái Lan (FAP – Federation Accounting Profession – tiền thân là Hội Kế toán - Kiểm toán Thái Lan) ban hành CMKT Thái Lan (TAS) dựa trên cơ sở IAS (Martin Klose, 2011). Năm 2006, FAP và Ủy ban chứng khoán Thái ký cam kết về việc tuân thủ CMKT quốc tế, sẽ tuân thủ theo IFRS. Ngày 20/7/2007, Thái Lan ban hành các CMKT áp dụng cho các công ty không phải là công ty đại chúng như DN tư nhân và các công ty sở hữu gia đình. Trong hai năm 2008 - 2009, Thái Lan có động thái xúc tiến quá trình chuyển đổi như ban hành nhiều văn bản hướng dẫn sử dụng khuôn khổ kế toán mới, điều chỉnh CMKT theo IFRS và đặt tên là TFRS. FAP lên kế hoạch thực hiện áp dụng IFRS với chặng đầu tiên từ 2011 bằng cách Sở Giao dịch chứng khoán Thái Lan (SET) thúc đẩy đối tượng tiên phong thực hiện tuân thủ theo IFRS là 50 công ty đại chúng niêm yết và giao dịch tại SET, tiếp theo đó là 100 công ty giao dịch tại SET. Theo FAP, quá trình áp dụng IFRS đặt ra nhiều thử thách cho Thái Lan. Một trong những bước không thể thiếu cho quá trình chuẩn bị cũng như thực thi là đào tạo cho các đối tượng trực tiếp thực hiện IFRS, đối tượng sử dụng BCTC, các trường đại học cũng nên đưa IFRS vào đào tạo chính thức cho sinh viên, các hiệp hội nghề nghiệp cũng như các tập đoàn công nghiệp đưa IFRS vào các chương trình tập huấn.

Tóm lại, tiến trình áp dụng IFRS của những nước trên cho thấy, mỗi quốc gia tự chọn cho mình một lộ trình phù hợp, phụ thuộc vào đặc điểm nền kinh tế từng quốc gia và quá trình này cần thời gian dài và sự nỗ lực lớn từ góc độ nhà ban hành luật đến thành phần tham gia thực hiện IFRS. Một số quốc gia áp dụng nguyên vẹn IFRS và cũng có một số quốc gia áp dụng từng phần hoặc có điều chỉnh riêng phù hợp với đặc điểm nền kinh tế, thậm chí có quốc gia chỉ dừng ở kế hoạch thực hiện. Trong lộ trình hội nhập của mình, các quốc gia đều phải thực hiện đồng bộ việc cải thiện hệ thống các quy định pháp lý có liên quan như: thuế, kế toán, kiểm toán, chứng khoán… với đào tạo nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực thực hiện.

Quá trình hội nhập củaViệt Nam và những khuyến nghị 

Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, việc lập BCTC theo IFRS ngày càng nhận được sự ủng hộ của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việc áp dụng các CMKT quốc tế để lập BCTC giúp nâng cao tính công khai, minh bạch trong BCTC của DN, đặc biệt là các DN niêm yết, đồng thời còn đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong việc thu hút các nguồn vốn nước ngoài. Hiện nay, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên chính thức của nhiều tổ chức quốc tế như WTO, IMF, ASEAN tham gia FTA, APEC, CEPT, ACE, do vậy, việc từng bước xây dựng hệ thống VAS theo hướng hội nhập IFRS cũng là xu hướng tất yếu. Cùng với sự phát triển và hội nhập, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống khuôn khổ kế toán nói riêng. Bắt đầu từ năm 1995, Bộ Tài chính ban hành quyết định 1141/TC-QĐ-CĐKT hướng dẫn các nội dung công tác kế toán về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và BCTC. Năm 1998, Bộ Tài chính đã thành lập Ban Nghiên cứu soạn thảo soạn thảo CMKT Việt Nam (VAS) dựa trên CMKT quốc tế (IAS) gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ và lập BCTC. Từ 2001- 2005, Bộ Tài chính đã ban hành bộ 26 CMKT Việt Nam gồm các nhóm như: nhóm chuẩn mực chung, nhóm chuẩn mực tài sản, nhóm chuẩn mực hàng tồn kho, nhóm chuẩn mực đầu tư tài chính, nhóm chuẩn mực doanh thu, nhóm chuẩn mực chi phí, nhóm chuẩn mực lập và trình bày BCTC. Song song đó, năm 2003 Luật Kế toán Việt Nam 03/2003/QH 11 được ban hành nhằm đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ về quản lý kế toán. Trong quá trình phát triển chế độ kế toán DN theo Quyết định 1141/TC-QĐ-CĐKT, nhiều bất cập đã phát sinh và có nhiều điểm không phù hợp với Luật Kế toán năm 2003 làm tiền đề cho VAS được ban hành. VAS là nền tảng cơ sở xây dựng, hoàn thiện chế độ kế toán theo khuôn mẫu thống nhất, là kim chỉ nam cho hoạt động kế toán. Năm 2006, Bộ Tài chính đã ban hành chế độ kế toán DN sửa đổi Quyết định 15/2006/QĐ-BTC áp dụng cho các DN nói chung và Quyết định 48/2006/QĐ-BTC áp dụng cho các DN vừa và nhỏ. Từ năm 2014 - 2016, Bộ Tài chính ban hành nhiều quy định mới thay đổi chế độ toán DN nhằm đáp ứng những thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế như Thông tư 200/2014/TT-BTC (thay thế cho Quyết định 15/2006/QĐ-BTC), Thông tư 133/2016/TT-BTC có hiệu lực từ 01/01/2017. Thông tư mới ban hành có nhiều điểm mới, thể hiện sự thay đổi chế độ kế toán Việt Nam theo thông lệ quốc tế như tôn trọng bản chất hơn hình thức, hệ thống sổ sách và chứng từ linh hoạt không quy định mẫu biểu, tách biệt kế toán và thuế, cập nhật nội dung một số chuẩn mực quốc tế về chênh lệch tỷ giá, hợp nhất BCTC… Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 bổ sung nhiều nội dung quan trọng, trong đó phần nguyên tắc kế toán bổ sung thêm khái niệm giá trị hợp lý sẽ khiến cho BCTC phản ánh một cách trung thực, hợp lý và đúng bản chất. Hội thảo “Kinh nghiệm triển khai IFRS tại các nước đang phát triển” tổ chức ngày 08/03/2016 tại Hà Nội cho thấy, hiện nay ở Việt Nam, đa phần các DN đang áp dụng CMKT Việt Nam (VAS) trong việc lập BCTC theo luật định, chỉ có một số DN có vốn đầu tư nước ngoài hoặc niêm yết trên thị trường quốc tế lập BCTC theo IFRS(B. M. Duc Hong Thi Phan, 2014), (B. M. Duc Hong Thi Phan, Meropy Barut, 2014).

Mặc dù, về cơ bản VAS đã được xây dựng dựa trên IAS/IFRS, theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và đã phản ánh được phần lớn các các giao dịch nền kinh tế. Tuy nhiên, VAS và chế độ kế toán hiện nay vẫn chưa thật sự hòa hợp hoàn toàn với IAS/IFRS để đạt được sự tiệp cận với kế toán quốc tế. Tiến trình áp dụng IFRS không phải là dễ dàng với các quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển như Liên minh Châu Âu, Mỹ, Úc… và quá trình này cần phải có sự nỗ lực từ nhiều phía gồm Nhà nước, các hiệp hội nghề nghiệp, các nhà nghiên cứu, trường đại học và những người làm kế toán tại DN. Do vậy, trong quá trình xây dựng lộ trình áp dụng IFRS tại Việt Nam cần lưu ý một số kinh nghiệm sau:

- Thứ nhất, Việt Nam đã có những nỗ lực chuyển đổi và phát triển hệ thống kế toán theo hướng hòa hợp IAS/IFRS. Tuy nhiên, do những đặc thù riêng về cơ chế quản lý kinh tế, hệ thống luật pháp… nên Việt Nam chưa thể áp dụng hoàn toàn theo IFRS. Trước mắt, Việt Nam nên lựa chọn và áp dụng một số chuẩn mực thuộc IFRS, tiến tới thông qua hoàn toàn IFRS. Lộ trình áp dụng IFRS của Việt Nam nên dựa trên cơ sở cho phép áp dụng IFRS hơn là bắt buộc. Theo kinh nghiệm từ các nước thuộc liên minh Châu Âu, Mỹ, Úc, Singapore…, trong giai đoạn đầu nên khoanh vùng các đối tượng ưu tiên thực hiện, theo đó chỉ bắt buộc thực hiện với những công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty đại chúng có niêm yết, ngân hàng và tổ chức tài chính.

- Thứ hai, Trong quá trình nghiên cứu áp dụng IFRS, Việt Nam rất cần sự tư vấn từ các nước có kinh nghiệm thực hiện IFRS từ thời điểm rất sớm như Úc và Mỹ, cũng như những nước gần đây mới thực hiện IFRS nhưng có nền kinh tế khá tương đồng như Thái Lan, Malaysia và các tổ chức như IASB, AOSSG. Kinh nghiệm từ những quốc gia này sẽ là những bài học quý giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách áp dụng hoàn toàn IFRS. 

- Thứ ba, Thời điểm soạn thảo và ban hành VAS (26 chuẩn mực) là từ 2001 đến 2005. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã gia nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, đồng thời IASB cũng đã ban hành nhiều CMKT quốc tế mới. Do đó, VAS cũng đã trở nên lạc hậu khi không cập nhật kịp thời những thay đổi và bổ sung của IAS/IFRS. Để đảm bảo tính kịp thời trước những thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế, Thông tư 200/2014/TT-BTC và Thông tư 202/2014/TT-BTC được ban hành, tuy nhiên, trong đó lại có những nội dung mới mà chưa có chuẩn mực tương ứng như: Thuyết minh công cụ tài chính (IFRS7), đo lường giá trị hợp lý (IFRS13), chuẩn mực về doanh thu (IFRS15). Vì vậy, Bộ Tài chính cần ban hành bổ sung các chuẩn mực hiện có để đảm bảo sự thống nhất, phù hợp giữa CMKT và chế độ kế toán, đồng thời tiếp tục ban hành mới các CMKT Việt Nam theo sát với IAS/IFRS như công cụ tài chính (IFRS9), các khoản hoãn lại theo luật định (IFRS 14), thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS2), giảm giá trị tài sản (IAS36).

- Thứ tư, Áp dụng Giá trị hợp lý ghi nhận tài sản và nợ phải thu là những điểm nổi bật làm VAS chưa thật sự hòa hợp hoàn toàn IFRS. Tuy Luật Kế toán số 88/2015/QH13 có đề cập đến giá trị hợp lý, nhưng đến nay vẫn chưa có chuẩn mực tương đương, văn bản hướng dẫn phương pháp định giá, phạm vi áp dụng… Theo IASB, để đo lường giá trị hợp lý cần giá niêm yết trên thị trường hoạt động, do đó, Việt Nam cần hoàn thiện yếu tố môi trường kinh tế và luật pháp nhằm tạo ra thị trường hoạt động đầy đủ để làm cơ sở cho việc xác định giá trị hợp lý của tài sản và nợ phải thu. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần phải xây dựng các quy định và hướng dẫn về giá trị hợp lý và sử dụng giá trị hợp lý nhằm đảm bảo thực hiện đồng bộ CMKT có sử dụng giá trị hợp lý.

- Thứ 5, Tăng cường vị thế các Hiệp hội nghề nghiệp Việt Nam (VACPA, VAA, ACCA) trong việc hiến kế cho Bộ Tài chính soạn thảo Luật Kế toán, CMKT, kiểm toán, chế độ kế toán theo thẩm quyền của các cấp ban hành. Trong tương lai, thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nên trao cho các Hiệp hội nghề nghiệp như kinh nghiệm từ các nước phát triển. Điều này cũng thể hiện chức năng làm cầu nối giữa cơ quan quản lý với các DN của các hiệp hội nghề nghiệp như các quy định do Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành.

- Thứ 6, Kinh nghiệm từ Malaysia, Thái Lan, Indonesia… cho thấy, một trong những bước không thể thiếu cho quá trình chuẩn bị cũng như thực hiện lộ trình áp dụng IFRS là nâng cao chất lượng đội ngũ trực tiếp áp dụng IFRS. Việc áp dụng IFRS đồng nghĩa với việc áp dụng kế toán dựa trên nguyên tắc (principle-based accounting), điều này là một thử thách khi yêu cầu người hành nghề có khả năng phán xét nghề nghiệp. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam gia nhập AEC, kế toán là một trong tám ngành nghề được phép dịch chuyển trong khu vực, do đó càng làm gia tăng áp lực buộc người hành nghề kế toán Việt Nam phải có chuyên môn sâu, có hiểu biết và kiến thức tốt về kinh tế, tài chính, khả năng ngoại ngữ và tin học. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ trực tiếp áp dụng IFRS, sinh viên là một đối tượng tiềm năng trong tương lai sẽ sử dụng IFRS mà không thể bỏ qua, do vậy, cần học tập kinh nghiệm của Trung Quốc, một trong những nước Châu Á đưa IFRS vào trường đại học như chương trình đào tạo chính thức. Các trường đại học tại Việt Nam có thể lồng ghép chương trình đào tạo các chứng chỉ nghề nghiệp kế toán, kiểm toán như ACCA, CPA, CAT…vào khung chương trình đào tạo để sinh viên có cơ hội tiếp cận sớm với IFRS, cũng như có thêm các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện thị trường lao động hội nhập quốc tế.

Tóm lại, việc áp dụng IFRS nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập,cải thiện tính minh bạch, tính so sánh và tính thống nhất của BCTC, từ đó giúp DN tiếp cận nguồn vốn đầu tư nước ngoài tốt hơn, thông qua đó thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển. Tuy nhiên, quá trình này cần có lộ trình cụ thể, cần sự quyết tâm và nỗ lực phối hợp thực hiện đồng bộ từ nhiều phía như các nhà ban hành luật, lãnh đạo DN, các hiệp hội, các nhà nghiên cứu, trường đại học cũng như kế toán viên và kiểm toán viên. 

Kết luận

Việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế IFRS lập BCTC là xu thế tất yếu trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu. IFRS với vai trò là ngôn ngữ chung về kế toán quốc tế, giúp cải thiện tính minh bạch và mức độ tin cậy về thông tin tài chính trên BCTC, giúp gia tăng niềm tin từ các nhà đầu tư, từ đó giúp nền kinh tế cũng như DN thu hút nhiều vốn đầu tư. Tuy nhiên, quá trình áp dụng IFRS của các nước phát triển và đang phát triển cho thấy đây là quá trình dài, khó khăn và cần nhiều thời gian chuẩn bị thực hiện. Việt Nam, trong quá trình hội nhập, cũng nhận thức được sự cần thiết phải áp dụng IFRS cũng như những lợi ích và khó khăn mà quá trình áp dụng IFRS mang lại. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện IFRS, Việt Nam nên học tập kinh nghiệm các nước để xây dựng lộ trình thực hiện vững chắc, để việc áp dụng IFRS được thuận lợi, nhanh chóng và đạt kết quả tốt. Một số kinh nghiệm quý giá và phù hợp có thể được áp dụng tại Việt Nam khi áp dụng IFRS là cần có lộ trình thực hiện, từ khuyến khích đến dần bắt buộc; lựa chọn một số loại hình công ty như công ty có vốn nước ngoài, công ty đại chúng có niêm yết để bắt đầu thực hiện; lựa chọn một số chuẩn mực thuộc IFRS phù hợp với điều kiện của Viêt Nam để áp dụng trước; nhờ tư vấn của chuyên gia từ các nước đã có áp dụng IFRS; ban hành thêm một số chuẩn mực mới phù hợp IFRS; tăng cường vị thế của hiệp hội nghề nghiệp; nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện...

 

------------------------

Tài liệu tham khảo

 

Duc Hong Thi Phan, B. M. (2014). Optimal approach and timeline for IFRS adoption in Vietnam: Perceptions from accounting professionals. Elsevier. doi: http://dx.doi.org/10.1016/j.racreg.2014.09.010

Duc Hong Thi Phan, B. M., Meropy Barut. (2014). International Financial Reporting Standards (IFRS) Adoption in VietNam: If, When and How? Corporate Ownership & Control, 11(4). 

Hanefah, H. M. M. (2012). Convergence Towards IFRS in Malaysia: Issues, Challenges and Opportunities.

International Jounal od Business, Economics and Law, 1. Hans Hoogervorst , S. L., Patricia McConnell,  Stephen Cooper, Chungwoo Suh. (2014). Singapore to introduce IFRSs-identical financial reporting framework for Singapore listed companies in 2018. 

Pacter, P. (2005). What exactly is convergence? Accounting, Auditing and Perfomance Evaluation, Vol. 2, Nos.1/2,2005, 2. 

PWC. (2015). The IFRS adoption by countries. PricewaterhouseCoopers LLP. 

SEC. (2008). Roadmap for the potential use of financial statements prepared in accordance with international financial reporting standards by U.S. issuers. U.S. Securities and exchange commission. 

SEC. (2010). Work plan for the consideration of incorporating international financial reporting stan.dards into the financial reporting system for U.S. issuers. U.S. Securities and exchange commission. 

SEC. (2012). Work plan for the consideration of incorporating international financial reporting standards into the financial reporting system for U.S. issuers, final staff report. U.S. Securities and exchange commission. 

SEC. (2014). Strategic plan for fiscal years 2014-2018, draft for comment. U.S. Securities and exchange commission. 

Wahyuni, E. T. (2011). The Accountant Perceptions of The IFRS Convergence Plan In Indonesia. Jurnal Reviu Akuntansi dan Keuangan, 1, 85-96.