Cách thức vận dụng báo cáo tài chính quốc tế và hướng đi của Việt Nam

Ngày đăng: 02/07/2017 - Lượt xem: 343 (lần)
Ths. Trần Thị Yến - Khoa Kinh tế & Kế toán, Đại học Quy Nhơn

Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, đòi hỏi chất lượng thông tin có thể so sánh ở phạm vi quốc tế, một ngôn ngữ kinh doanh cần được thiết lập bằng việc xây dựng hệ thống chuẩn mực toàn cầu chất lượng cao đáp ứng thị trường vốn quốc tế. Trước yêu cầu đó, mục tiêu của Ủy ban Chuẩn mực kế toán (CMKT) quốc tế đã có sự chuyển đổi  từ hòa hợp sang hội tụ kế toán. Quá trình hội tụ này đã đạt được những thành công đáng kể, như sự chấp thuận áp dụng các chuẩn mực quốc tế của Liên minh Châu Âu từ năm 2005. Mặc dù vậy, quá trình này cũng gây nhiều tranh luận, và vì vậy, việc nghiên cứu đã được mở rộng sang nhiều quốc gia bằng việc so sánh giữa các quốc gia hay tập trung vào một quốc gia qua những mốc thời gian khác nhau để đánh giá mức độ cũng như cách thức hội tụ của các quốc gia. Quá trình hội tụ kế toán quốc tế đang diễn ra hiện nay cùng với sự phát triển của hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế, thay thế dần cho các CMKT quốc tế. Tại Việt Nam, đáp ứng xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, Việt Nam đã và đang thiết lập hành lang pháp lý về kế toán, kiểm toán theo thông lệ các nước nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng thông tin BCTC, trong đó một bộ phận quan trọng là hệ thống CMKT Việt Nam. Đặc biệt, trong năm 2014, với việc ban hành Thông tư số 200/2014/TT-BTC, về chế độ kế toán doanh nghiệp (DN) thay thế Quyết định số 15/2006 ngày 20/03/2006 và cụ thể là Thông tư 202/2014/TT-BTC, về hướng dẫn lập BCTC hợp nhất, đã đưa chế độ kế toán và lập BCTC của Việt Nam tiến lại gần hơn với các tiêu chuẩn quốc tế trong IAS và IFRS. Cũng có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề áp dụng IFRS của Việt Nam đã được công bố. Mặc dù vậy, một số tồn tại hoặc khía cạnh cần được nghiên cứu thêm cho mục đích đề xuất ra các định hướng áp dụng IFRS của Việt Nam trong giai đoạn hiện tại.

 

Cách thức vận dụng IFRS của các quốc gia trên thế giới

Hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế, hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là những nguyên tắc và các quy định kế toán trong việc lập và trình bày BCTC mà còn gắn chặt với yếu tố thể chế, bao gồm tổ chức lập quy cũng như quy trình xây dựng và ban hành chuẩn mực. Hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế bao gồm ba phần: Khuôn mẫu lý thuyết cho việc lập và trình bày BCTC quốc tế; Các chuẩn mực BCTC quốc tế; Các hướng dẫn CMKT quốc tế và chuẩn mực BCTC quốc tế.

IFRS được áp dụng sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Cụ thể, BCTC cung cấp thông tin toàn diện, đúng đắn, kịp thời và do đó nhà đầu tư có nhiều thông tin về thị trường vốn giảm được rủi ro trong việc đưa ra quyết định kinh tế. BCTC được định dạng theo biểu mẫu thống nhất và loại trừ sự khác biệt trong CMKT, các thông tin trên BCTC có tính so sánh. Qua đó, sẽ giúp cho các nhà đầu tư giảm chi phí trong việc xử lý thông tin kế toán, giảm sự khác biệt khác biệt quốc tế trong CMKT. Ngoài ra, chất lượng thông tin cao hơn, tính minh bạch rõ ràng sẽ làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư. Do vậy, xu thế hội tụ kế toán quốc tế là quá trình tất yếu tiến tới xây dựng hệ thống chuẩn mực duy nhất toàn cầu, chất lượng cao áp dụng cho thị trường vốn quốc tế. Tuy nhiên, các quốc gia do những khác biệt về các môi trường pháp lý, kinh tế, chính trị, văn hóa nên đã có các phương cách tiếp cận khác nhau. Các quốc gia lớn với cách tiếp cận của mình có thể ảnh hưởng đến xu thế hội tụ kế toán quốc tế. Các quốc gia nhỏ hơn thường sẽ phải thích nghi với các xu hướng này trong bối cảnh riêng của mình. Để có thể đề xuất cách thức hội tụ phù hợp với đặc điểm của Việt Nam, trước hết cần nghiên cứu cách thức hội tụ của một số các quốc gia trên thế giới và trong khu vực. Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề hội tụ kế toán quốc tế, tác giả nhận thấy có ba cách thức hội tụ cơ bản như sau:

Một là, cách thức vận dụng toàn bộ IFRS. Trong cách thức này, các quốc gia chấp nhận toàn bộ chuẩn mực BCTC quốc tế hầu như không có bất cứ điều chỉnh nào. Các quốc gia chọn cách thức này là Singapore và Philippines. Cách thức áp dụng toàn bộ IFRS mà không cần bất kỳ sự điều chỉnh hay chuyển đổi nào, do đó tiết kiệm đáng kể chi phí và thời gian soạn thảo chuẩn mực. Philippines là một ví dụ khi tổ chức lập quy chỉ tập trung vào việc tham gia chung với IASB (Thảo luận, góp ý Dự thảo,…) và xây dựng các hướng dẫn áp dụng phù hợp quốc gia. Cách làm này cũng giảm rủi ro không theo kịp với chuẩn mực quốc tế, vì trong thời gian soạn thảo chuẩn mực quốc gia thì chuẩn mực quốc tế đã thay đổi. Bên cạnh đó, cách thức vận dụng này cũng đảm bảo thông tin minh bạch và chất lượng cao cho BCTC DN, từ đó tạo cơ hội để tiếp cận với thị trường vốn quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng. Tuy nhiên, sự khác biệt về các yếu tố môi trường đã hình thành những đặc trưng trong từng hệ thống kế toán của mỗi quốc gia. Do đó, việc áp dụng cách thức vận dụng toàn bộ IFRS khó có thể phù hợp với tất cả các quốc gia. Đặc biệt, sự khác biệt về ngôn ngữ là hạn chế quan trọng, trong việc áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế cho tất cả các DN, do trở ngại khi tiếp cận với những thay đổi nhanh chóng của chuẩn mực quốc tế. Và cơ sở hạ tầng kế toán là những cản trở của chính các quốc gia trong quá trình áp dụng toàn bộ.

Hai là, cách thức vận dụng IFRS theo hướng tiệm cận. Các quốc gia theo hướng này không chấp nhận toàn bộ chuẩn mực BCTC quốc tế mà điều chỉnh, bổ sung hệ thống hiện hành để “Tiệm cận” với chuẩn mực BCTC quốc tế theo một lộ trình nhất định. Thuộc nhóm này có Thái Lan và Indonesia. Cách thức vận dụng này có nhiều ưu điểm như: Ít gây sự xáo trộn hay tranh luận vì có thể bảo vệ nhiều nhất đặc thù quốc gia trong quá trình hội nhập; Các quốc gia sẽ không gặp trở ngại về ngôn ngữ nhiều vì quá trình chuyển hóa từng bước chậm rãi và qua nhiều tầng nấc trung gian; Và nó cũng không đòi hỏi hạ tầng nền tảng kế toán cao. Một ưu điểm khác của cách thức này là tránh né được những khó khăn trong giai đoạn hiện tại, điển hình như bất cập trong việc hội tụ của Hoa Kỳ, các chuẩn mực quốc tế liên tục thay đổi gây khó khăn cho các quốc gia ít có sự tham gia vào quá trình xây dựng chuẩn mực BCTC quốc tế. Bên cạnh ưu điểm, cách thức này có chi phí nhìn bên ngoài thì không lớn nhưng thực chất không phải thế vì phải duy trì trong một quá trình lâu dài và chỉnh sửa nhiều lần nhưng vẫn cứ lạc hậu. Một nhược điểm khác nữa là, CMKT luôn bị đánh giá thấp về mức độ hội tụ, chất lượng BCTC kém không tạo được niềm tin của các nhà đầu tư.

 

Ba là, cách thức vận dụng từng phần IFRS. Đây là cách thức trung gian trong đó việc áp dụng IFRS được tiến hành khác nhau đối với những đối tượng khác nhau. Thuộc về cách thức này có Malaysia, Hàn quốc, Hồng Kông và Đài Loan. Phần lớn các quốc gia này áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế (có thể có vài loại trừ) cho các công ty niêm yết và mở rộng thêm một số trường hợp như có quy mô lớn hoặc thuộc một số lĩnh vực đặc thù như tài chính, bảo hiểm. Các DN không niêm yết và quy mô nhỏ được phép áp dụng hệ thống CMKT quốc gia hiện hành và không hội tụ với chuẩn mực BCTC quốc tế áp dụng cho DNNVV. Riêng Hồng Kông, tách thành hai hệ thống chuẩn mực áp dụng cho DN không niêm yết, một là áp dụng cho các DN có quy mô lớn và một áp dụng cho DNNVV. Cách thức vận dụng này đáp ứng xu thế hội tụ kế toán quốc tế, nâng cao chất lượng thông tin, thuận lợi cho phát triển kinh tế và tránh được những biến động cho DNNVV. Tuy nhiên, cách thức này tác động một phần đến các DN niêm yết và các đối tượng khác được xếp vào diện bắt buộc áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế.

Đề xuất về cách thức vận dụng IFRS cho Việt Nam

Để có thể chọn lựa một cách thức phù hợp cho Việt Nam trong ba cách thức trên, cần xem xét thêm các đặc điểm riêng của Việt Nam. Trên cơ sở các nghiên cứu trước và việc phân tích dưới đây, tác giả đề xuất cách thức vận dụng IFRS cho Việt Nam là kết hợp giữa cách thức vận dụng toàn phần IFRS với tiệm cận. Các luận điểm của tác giả như sau:

Thứ nhất, Việt Nam không có những điều kiện đủ để chọn lựa cách thức vận dụ ng toàn bộ IFRS.  

Mặc dù,  IFRS hiện đang được áp dụng toàn bộ hoặc gần như toàn bộ tại hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới và ở nhiều quốc gia Châu Á, trong đó có các nền kinh tế khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, Việt Nam không thể áp dụng cách thức này, bởi lẽ Việt Nam không có các đặc điểm tương tự như các quốc gia đó. Chẳng hạn, Singapore và Philippines dù là các quốc gia mới phát triển và thuộc châu Á, tuy nhiên họ có một số đặc điểm riêng,  đó là: Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của cả Singapore và Philippines, bên cạnh một số ngôn ngữ địa phương. Việc giải thích các chuẩn mực cho mọi quy mô DN là điều khả thi với họ nhưng không thể thực hiện tại Việt Nam, khi tiếng Anh vẫn còn là một điểm yếu cho thị trường lao động Việt Nam. Tổ chức nghề nghiệp và kinh nghiệm hoạt động quốc tế của Hội Kế toán công chứng Singapore (ICPAS) và Hội Kế toán công chứng Philippines (PICPA) đều ở vị trí cao ở khu vực châu Á. Tổ chức nghề nghiệp ở Việt Nam còn non trẻ, số lượng thành viên chưa nhiều và chỉ tham dự hơn là tham gia các hoạt động lập quy trong nước cũng như ngoài nước. Cả hai quốc gia đều có thị trường chứng khoán quan trọng, nên việc áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế là một yêu cầu cấp thiết. Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đủ lớn mạnh để trở thành động cơ chính cho việc hội tụ toàn bộ, không có bất kỳ điều chỉnh nào với chuẩn mực BCTC quốc tế.

Thứ hai, cách thức vận dụng IFRS theo hướng tiệm cận cũng có nhiều bất lợi đối với Việt Nam

Vận dụng IFRS theo hướng tiệm cận là cách thức được các quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc và một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia áp dụng. Cách thức này, ngày càng tỏ ra bất lợi. Việc mất quá nhiều thời gian trong việc thay đổi dần dần các chuẩn mực cũng như rủi ro không đồng bộ và luôn bị lạc hậu là một thách thức cho các quốc gia theo cách thức này. Dù đã thực hiện khá lâu, việc áp dụng IFRS của Hoa Kỳ vẫn còn không ít trắc trở. Đối với Thái Lan và Indonesia, dù đã nỗ lực hàng chục năm, cả hai quốc gia này đều bị khuyến cáo trong Báo cáo của nhóm quan sát chuẩn mực và quy định thuộc Ngân hàng thế giới về khoảng cách giữa chuẩn mực quốc gia và quốc tế cần phải thu hẹp hơn nữa.

Từ những vấn đề trên, tác giả đề xuất cách thức cho Việt Nam là kết hợp giữa áp dụng toàn bộ IFRS và tiệm cận. Việc lựa chọn cách thức áp dụng IFRS như thế này sẽ giúp Việt Nam hạn chế các điểm yếu như về cơ sở hạ tầng kế toán yếu, đặc thù pháp lý, văn hóa, kinh tế cũng như trở ngại ngôn ngữ,…. Những thuận lợi của cách vận dụng này được nhiều quốc gia nhận thấy, ngay cả những quốc gia có một số thuận lợi để áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế toàn bộ như Malaysia hay Hồng Kông. Cách thức vận dụng này dựa trên nền tảng chia đối tượng thành hai hoặc nhiều nhóm với mức khác nhau. Tác giả chia thành hai nhóm là nhóm áp dụng toàn bộ chuẩn mực BCTC quốc tế và nhóm chuyển đổi dần.

Các công ty có quy mô lớn có thể đầu tư nhiều nguồn lực hơn để sớm tiếp cận với chuẩn mực BCTC quốc tế. Đặc biệt, là các DN niêm yết trên sàn chứng khoán - những DN đầu tiên được yêu cầu tiên phong áp dụng IFRS theo khung lộ trình áp dụng IFRS của Bộ Tài chính đến năm 2020. Hiện tại, Việt Nam cũng đã có một số ngân hàng thương mại cổ phần, các công ty niêm yết quy mô lớn và tổ chức có giao dịch với những đối tác quốc tế đã thực hành áp dụng IFRS.

Các DN không niêm yết, quy mô nhỏ hơn có thể tiếp cận từng bước, không chấp nhận toàn bộ chuẩn mực báo cáo tài  chính quốc tế mà điều chỉnh, bổ sung hệ thống hiện hành để “tiệm cận” với chuẩn mực BCTC quốc tế theo một lộ trình nhất định. Hay nói rõ hơn, nhóm chuyển đổi dần bao gồm các DN không phải là công ty đại chúng và một số DN  Nhà nước quy mô nhỏ và vừa. Hiện nay, các DN thuộc nhóm đối tượng này đang áp dụng hệ thống CMKT Việt Nam hiện hành. Tác giả đề xuất trước mắt vẫn duy trì và phát triển hệ thống CMKT Việt Nam hiện hành và sẽ hội tụ với chuẩn mực BCTC quốc tế cho DNNVV trong một tương lai dài hạn hơn. Bởi lẽ, chuẩn mực BCTC quốc tế áp dụng cho DNNVV, theo định nghĩa của IASB là một hệ thống CMKT áp dụng cho DN không niêm yết, không phụ thuộc vào quy mô công ty. Nó được biên soạn theo hướng thuận tiện sử dụng thông qua giảm bớt yêu cầu thuyết  minh, giảm bớt lựa chọn phức tạp trong các phương pháp xử lý kế toán, biên soạn dưới dạng một chuẩn mực duy nhất,… nhưng vẫn đảm bảo cung cấp thông tin cho người sử dụng. Như vậy, về cơ bản các chuẩn mực này cũng bao gồm những nội dung phức tạp như công cụ tài chính, đánh giá tổn thất,… nên không thể dễ dàng áp dụng ngay trong một thời gian gần cho các DN Việt Nam không phải là công ty đại chúng. Ngoài ra, trong điều kiện nguồn lực có hạn, việc tập trung vào việc hoàn thiện dần CMKT hiện hành sẽ là một hướng đi hiệu quả hơn đối với các DNNVV ở Việt Nam. Có thể nói rằng, việc áp dụng IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các chỉ tiêu và khoản mục trên BCTC. IFRS được chấp nhận như chuẩn mực lập BCTC cho các công ty tìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới. Việc áp dụng IFRS, sẽ tăng khả năng so sánh của các thông tin tài chính và tăng chất lượng thông tin cung cấp cho các nhà đầu tư, giảm sự bất định trong đầu tư, giảm rủi ro đầu tư, tăng hiệu quả của thị trường và giảm thiểu chi phí vốn. Hơn nữa, thông qua việc áp dụng IFRS sẽ giảm ngăn cách buôn bán chứng khoán, bằng việc đảm bảo BCTC minh bạch hơn. BCTC được lập theo IFRS dễ hiểu và có thể so sánh sẽ cải thiện và tạo lập mối quan hệ với người sử dụng BCTC. Tuy nhiên, việc áp dụng IFRS cũng không hoàn toàn dễ dàng đối với các DN. Một trong những thách thức đó là phải có đội ngũ nhân viên kế toán và tài chính có năng lực. Điều này không phải là vấn đề đơn giản vì IFRS được coi là rất phức tạp ngay cả đối với các nước phát triển. Theo đó, phương pháp hạch toán các giao dịch theo IFRS dựa trên bản chất các giao dịch và dựa trên nhiều xét đoán và đánh giá phân tích của các nhà quản lý, những người sẽ tư vấn cho kế toán viên lập BCTC. Hơn nữa, để áp dụng IFRS đơn vị phải bỏ ra chi phí ban đầu lớn, xây dựng lại hệ thống thu thập, xử lý và trình bày các thông tin tài chính.

Áp dụng IFRS là hướng đi tích cực trong tiến trình phát triển. Những lợi ích từ việc sử dụng ngôn ngữ kinh tế chung toàn cầu đã giải quyết được bài toán thống nhất thông tin trình bày trên BCTC của các quốc gia, đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. Mặc dù, có nhiều trở ngại và quá trình vận dụng IFRS không phải lúc nào cũng thuận lợi, tuy nhiên việc áp dụng IFRS là một xu thế tất yếu. Các quốc gia đều nhận thức được những ích lợi của tiến trình này nhưng do sự khác biệt về đặc điểm kinh tế, pháp lý, văn hóa cũng như đằng sau đó là những quyền lực kinh tế, các thể chế chính trị của các quốc gia và khu vực đã chi phối và tác động đến tiến trình chung. Chính vì vậy, các quốc gia đã có những phương pháp tiếp cận khác nhau được coi như đối sách thích hợp để tìm kiếm những giải pháp tối ưu mang hiệu quả tốt nhất trong phát triển kinh tế. Việt Nam cần phải học hỏi những kinh nghiệm từ các quốc gia đã và đang vận dụng IFRS trên thế giới, để đưa ra hướng đi phù hợp cho sự phát triển kinh tế của đất nước.

-------------------------

Tài liệu tham khảo

 

1. Bộ Tài chính, 2014. Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 Hướng dẫn Chế độ kế toán DN.

2. Bộ Tài chính, 2016. Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/08/2016 Hướng dẫn Chế độ kế toán DN nhỏ và vừa.

3. Quế Chi, 2011. Chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế: Những thách thức mới. Tạp chí Kế toán và kiểtoán, số 07, trang 40.

4. Lê Hoàng Phúc, 2014. Vận dụng CMKT quốc tế để hoàn thiện hệ thống BCTC DN trong điều kiện ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.

5. Quốc hội, 2015. Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20 /11/2015.

6. Trần Quốc Thịnh, 2014. Định hướng xây dựng chuẩn mực BCTC Việt Nam đáp ứng xu thế hội tụ kế toán quốc tế. Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.

7. Nguyen Cong Phuong & Jacques Richard, 2011. Economic Transition and Accounting System Reform in Vietnam. European Accounting Review, vol. 20, no.

8. IFRS, 2012. The IFRS Foundation and its translation policies. [on line] Available at: <http://www.ifrs.org/Use-around-the-world/IFRS-translations/Pages/IFRS translations.aspx>