Lợi ích và định hướng trong việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế trong các doanh nghiệp Việt Nam

Ngày đăng: 21/02/2017 - Lượt xem: 4191 (lần)
Ths. NCS. Lê Văn Tân Khoa Kinh tế & Kế toán –Đại học Quy Nhơn Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) có nhiều điểm nổi trội như mang lại tính minh bạch cao, gia tăng niềm tin cho nhà đầu tư trên toàn cầu về những thông tin trong báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp (DN). Tại Việt Nam, phần lớn các DN vẫn chưa nghiên cứu áp dụng IFRS nên cần thiết phải xây dựng định hướng áp dụng IFRS trong các loại hình DN, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam hội nhập kinh tế sâu rộng

Sự cần thiết của việc áp dụng IFRS trong các DN Việt Nam 

IFRS là hệ thống bao gồm 16 Chuẩn mực BCTC quốc tế do Hội đồng chuẩn mực kế toán (CMKT) quốc tế (IASB) – tiền thân là Ủy ban CMKT quốc tế (IASC) soạn thảo và ban hành, phục vụ công tác lập BCTC (BCTC) tại các DN. Tình đến nay,  IFRS hiện đang được áp dụng toàn bộ hoặc gần như toàn bộ tại hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có các nền kinh tế khu vực Đông Nam Á. Qua khảo sát của IASB, 116/140 quốc gia được khảo sát đã yêu cầu các công ty niêm yết đại chúng áp dụng IFRS và hầu hết các nước còn lại đã cho phép áp dụng IFRS.

Tại Việt Nam, các DN đang áp dụng theo 26 VAS do Bộ Tài chính ban hành trong việc lập BCTC. VAS được xây dựng dựa trên các IAS/IFRS, theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế và trình độ quản lý của các DN Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực. Trong giai đoạn trước đây, không thể phủ nhận tác dụng tích cực của VAS. Tuy nhiên, với sự thay đổi về thể chế kinh tế trong nước cũng như thay đổi trong hệ thống IFRS trong giai đoạn hiện nay, VAS đã bộc lộ nhiều tồn tại, đặc biệt là các giao dịch của nền kinh tế thị trường mới phát sinh chưa được VAS giải quyết thấu đáo, như việc ghi nhận và đánh giá tài sản, nợ phải trả theo giá trị hợp lý, ghi nhận tổn thất tài sản, kế toán các công cụ tài chính phái sinh cho mục đích kinh doanh và phòng ngừa rủi ro,… chưa được hướng dẫn cụ thể.

Do vậy, để cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển bền vững, hỗ trợ thị trường chứng khoán (TTCK), bảo vệ nhà đầu tư và thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN), cần thiết phải nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính. Mặt khác, để có thể tiếp cận các dòng vốn trên thị trường quốc tế, niêm yết tại thị trường nước ngoài, yêu cầu lập BCTC theo IFRS đang trở thành nhu cầu ngày càng bức thiết và là xu hướng tất yếu của các tập đoàn, các công ty đại chúng Việt Nam.

 

Lợi ích của việc áp dụng IFRS 

Việc áp dụng IFRS có đóng góp giá trị to lớn đối với tính bền vững của nền kinh tế, cụ thể IFRS tạo sự minh bạch và đồng thời, giúp nâng cao trách nhiệm giải trình bằng cách giảm bớt lỗ hổng thông tin giữa nội bộ và bên ngoài công ty. Thông qua áp dụng IFRS, các DN Việt Nam sẽ có thể được hưởng lợi từ hội nhập kinh tế như tiếp cận nguồn vốn, duy trì năng lực cạnh tranh và phát triển một cách bền vững. Theo khảo sát của IASB đánh giá toàn diện của hơn 100 nghiên cứu chuyên ngành về lợi ích của IFRS cho thấy: Hầu hết các nghiên cứu đều đưa ra các bằng chứng là “IFRS đã giúp tăng cường hiệu quả hoạt động thị trường vốn và thúc đẩy các khoản đầu tư xuyên biên giới”. Ngoài ra, đánh giá của Cộng đồng Châu Âu (EU) sau 10 năm áp dụng IFRS cũng khẳng định “IFRS đã thành công trong việc tạo ra một ngôn ngữ kế toán chung cho thị trường vốn. Chính các nhà đầu tư và các DN đã hỗ trợ IFRS trong việc cải thiện tính minh bạch và tính so sánh của BCTC”.

Khi DN Việt Nam được phép áp dụng IFRS thì BCTC của DN đó, sẽ được đảm bảo theo tiêu chuẩn quốc tế và được các nhà đầu tư nước ngoài công nhận, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho DN có tấm vé thông hành để tiếp cận với dòng vốn trên thị trường quốc tế. Nhưng quan trọng nhất đó là, bản thân BCTC minh bạch và trung thực thì “cơ thể” của DN đó sẽ lành mạnh vì BCTC như là “mạch máu” của DN, khi người quản lý biết rõ được “bệnh” của DN thì họ sẽ có các “bài thuốc” phù hợp cho căn bệnh đó thay vì giấu giếm, rồi đến một lúc nào đó như một ung nhọt vỡ ra và không thể cứu được.

IFRS giúp các DN Việt Nam và thị trường hoạt động hiệu quả hơn nhờ có một chuẩn mực phạm vi toàn cầu và đáng tin cậy, áp dụng cho cả các nền kinh tế phát triển và mới nổi. IFRS cũng hỗ trợ giảm thiểu chi phí về vốn và chi phí lập, cung cấp báo cáo.

Ngoài ra, các BCTC có liên quan, có thể so sánh và phản ánh trung thực tình hình tài chính của tổ chức là điều mà các nhà đầu tư đang tìm kiếm trong việc đưa ra quyết định đầu tư của mình. Khi DN thể hiện được tất cả những hạn chế, sự kém hiệu quả của mình thông qua một bản BCTC minh bạch, trung thực thì các nhà đầu tư, chủ nợ sẽ hiểu rõ về sức khỏe của DN, giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung cấp và rộng hơn là giảm thiểu rủi ro đối với xã hội.

 

Thách thức của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam

Mặc dù có rất nhiều lợi ích trong việc áp dụng IFRS, nhưng để áp dụng được IFRS, các DN Việt Nam phải chuẩn bị rất nhiều thứ từ nhân lực đến vật lực.

Thứ nhất, cơ chế, chính sách cho việc áp dụng IFRS ở Việt Nam hiện vẫn chưa hoàn thiện, do vậy một số kỹ thuật đặc biệt của IFRS chưa có căn cứ pháp lý để thực hiện như: Ghi nhận tổn thất tài sản, kế toán các công cụ phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro, ghi nhận giá trị hợp lý của một số tài sản tài chính, bất động sản đầu tư hoặc tài sản sinh học,… đều chưa được hướng dẫn. Mặt khác, kỹ thuật để thực hiện một số đánh giá là tương đối phức tạp như việc xác định tổn thất LTTM, đánh giá giá trị thu hồi của tài sản, giá trị nội tại, lãi suất hiệu lực,… còn rất nhiều khó khăn.

Thứ hai, hệ thống kết nối thông tin trong nội bộ và phần mềm kế toán của DN chưa đủ mạnh, để có thể cập nhật các thông tin tài chính kịp thời và đầy đủ.

Thứ ba, không phải DN nào cũng có thể đáp ứng được nhân sự có trình độ cao, để có thể hiểu và áp dụng IFRS ngay lập tức.

Ngoài ra, các cơ sở đào tạo như: Các trường Đại học, Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và các đơn vị đào tạo trong nước tại Việt Nam, hiện chưa có chương trình đào tạo về IFRS một cách hệ thống. Hiện mới chỉ có một số các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như Hiệp hội Kế toán Anh quốc (ACCA), Hiệp hội Kế toán công chứng Australia (CPA Australia), Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW) có chương trình đào tạo IFRS cho một số ít học viên.

Một số công ty kiểm toán như các công ty trong nhóm Big 4 cũng mới chỉ đào tạo IFRS chủ yếu cho nhân viên trong công ty. Tuy nhiên, đại bộ phận kế toán viên tại các DN Việt Nam là những người trực tiếp lập BCTC đều chưa được đào tạo và tiếp cận IFRS. Hầu như các trường Đại học chưa triển khai việc đào tạo IFRS cho sinh viên, dẫn đến tình trạng sinh viên khi ra trường chưa biết gì về IFRS.

Ngoài ra, bản thân cơ quan thuế cũng như các cán bộ thuế cũng chưa nắm rõ về các chuẩn mực của IFRS nên khi làm theo IFRS thì chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán sẽ ngày càng khác biệt. Do vậy, vẫn còn xảy ra những tranh luận giữa cơ quan thuế và DN khi các cơ quan này nhận được bộ BCTC theo IFRS từ phía các DN.

Ngoài những khó khăn kể trên còn có những khó khăn từ thông số của thị trường. Khi đánh giá giá trị hợp lý thì phải có thị trường thích hợp để đánh giá. Ví dụ, khi muốn đánh giá giá trị hợp lý của một sản phẩm loại A thì chúng ta phải có thị trường để xác định giá trị của sản phẩm đó. Trong khi đó, trên thực tế, chúng ta vẫn chưa có đủ thị trường để xác định giá trị. Ngoài ra, hệ thống đánh giá tín nhiệm, xếp hạng DN của Việt Nam cũng chưa mạnh vì khi áp dụng IFRS thì phải xác định các yếu tố như là lãi suất hiệu lực.

 

Muốn xác định lãi suất hiệu lực thì phụ thuộc nhiều vào yếu tố xác định rủi ro, hệ thống quản trị cũng như xếp hạng DN để xác định lãi suất hiệu lực đối với từng DN. Còn với thị trường vốn, vì quy mô DN Việt Nam còn nhỏ nên thị trường trái phiếu chuyển đổi chưa phát triển, dẫn đến công cụ vốn và công cụ nợ nếu muốn tính theo chuẩn mực quốc tế còn gặp khó khăn, do chưa có đầy đủ các thị trường để chúng ta đo lường và xác định giá trị.

Việc thực hiện theo IFRS thực sự là một thách thức về mức độ phát triển của thị trường, trình độ, năng lực của kiểm toán viên, kế toán viên và cả các nhà đầu tư trên thị trường. Đối với thị trường chứng khoán, việc lập và trình bày BCTC theo IFRS sẽ hỗ trợ nâng cao tính công khai, minh bạch và bền vững của thị trường. Tuy nhiên, việc chuyển đổi BCTC được lập theo VAS sang IFRS, đòi hỏi nỗ lực không nhỏ từ các DN và những người làm công tác tài chính kế toán. 

Định hướng áp dụng IFRS trong các DN Việt Nam

Thứ nhất, áp dụng IFRS từng phần theo lộ trình phù hợp 

Một vấn đề đặt ra cho Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào đang cần cập nhật các CMKT, là liệu có nên áp dụng IFRS hay điều chỉnh để phù hợp với những yêu cầu trong nước và đại đa số đã chọn áp dụng nguyên vẹn IFRS. Cụ thể, nhiều chuyên gia và tổ chức nghề nghiệp quốc tế đã khuyến cáo, Việt Nam nên áp dụng nguyên vẹn bộ Chuẩn mực IFRS, không nên áp dụng theo kiểu từng phần như một số quốc gia. Bởi vì, khi đầu tư vào Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài không muốn gặp rắc rối kiểu chuẩn mực IFRS bị “Việt Nam hóa”. Nhà đầu tư nước ngoài cho rằng, họ nhận được nhiều lợi ích hơn ở các quốc gia mà họ đầu tư áp dụng nguyên vẹn chuẩn mực IFRS so với các nước chỉ áp dụng 80- 90% chuẩn mực này. IFRS là ngôn ngữ kế toán quốc tế, nên việc áp dụng nguyên vẹn sẽ giúp các tổ chức cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư nước ngoài dễ “giao tiếp”, làm ăn với nhau hơn,… 

Tuy nhiên, việc xem xét áp dụng IFRS vào các DN Việt Nam cần dựa vào điều kiện cụ thể của nước ta trong bối cảnh nền kinh tế thị trường chuyển đổi, đòi hỏi cần có lộ trình phù hợp trước khi tiến tới áp dụng hoàn toàn IFRS. Cụ thể, phần lớn các DN Việt Nam đang áp dụng CMKT Việt Nam (VAS) để lập BCTC theo nguyên tắc giá gốc, còn IFRS theo nguyên tắc giá thị trường (giá trị hợp lý). IFRS được xây dựng, để áp dụng cho các nền kinh tế phát triển, khi mà các yếu tố thị trường đã phát triển đồng bộ, có thị trường thuận lợi cho định giá các loại tài sản theo giá thị trường. Các yếu tố này chưa có được đầy đủ ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nên trong giai đoạn ban đầu mà áp dụng nguyên vẹn IFRS sẽ gặp không ít khó khăn với nước ta, nhất là nếu quá trình chuẩn bị các yếu tố cần thiết không được thúc đẩy quyết liệt, đồng bộ. 

Do vậy, Việt Nam nên chọn áp dụng IFRS từng phần sẽ phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng ngoại ngữ, trình độ của thị trường lao động và sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Với mô hình này, Việt Nam có khả năng thực hiện được song song 2 hệ thống chuẩn mực: IAS/IFRS và CMKT quốc gia. Đối với các công ty niêm yết, các công ty đại chúng, các công ty bảo hiểm, tổ chức tín dụng, tổng công ty Nhà nước cần quy định bắt buộc áp dụng IFRS trong việc lập và trình bày BCTC. Còn đối với các DN khác với các nghiệp vụ kinh tế tài chính đơn giản, tính so sánh của thông tin trên phạm vi quốc tế chưa cao, các yêu cầu về pháp lý, kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, sẽ lập BCTC theo VAS và các chế độ kế toán hiện hành.

Việt Nam nên nghiên cứu, xem xét triển khai IFRS ngay sau thời điểm Luật Kế toán 2015 có hiệu lực từ ngày 1/1/2017. Để việc triển khai IFRS đảm bảo tính khả thi, cơ quan quản lý nên đưa ra hệ thống chính sách theo hướng ban đầu áp dụng đối với các DN quy mô lớn thường xuyên có quan hệ sản xuất, kinh doanh với các đối tác quốc tế, các DN có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán có trách nhiệm báo cáo đến các cổ đông. Các công ty này cũng bao gồm các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức tương hỗ và các tổ chức tương tự có nhận vốn từ công chúng. Khi những lợi ích của việc triển khai IFRS được kiểm chứng, đồng thời các yếu tố thuận lợi cho triển khai rộng rãi IFRS chín muồi, thì sẽ tiến tới áp dụng chuẩn mực này cho tất cả các DN trong nền kinh tế.

Thứ hai, xây dựng bộ CMKT áp dụng riêng cho các DN vừa và nhỏ

Đối với các DNNVV không có trách nhiệm BCTC ra công chúng, các DN này có thể lập BCTC dựa theo Thông tư 133/2016/TT – BTC do Bộ Tài chính ban hành về chế độ kế toán áp dụng cho DNNVV.

 

Đồng thời, Bộ Tài chính cần tiến hành xây dựng bộ CMKT áp dụng riêng cho các DN quy mô nhỏ và vừa. Nhóm DN này có số lượng các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ít, bản chất nghiệp vụ đơn giản nên nếu áp dụng cùng bộ chuẩn mực BCTC quốc tế thì quá phức tạp và không phù hợp. Mặt khác, do điều kiện về năng lực của kế toán viên của nhóm DN này còn hạn chế nên khả năng vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế là hết sức khó khăn.

 

Thứ ba, nâng cao vai trò của các Hiệp Hội ngành nghề kế toán, kiểm toán

Triển khai IFRS là vấn đề không đơn giản và rất quan trọng, nên Việt Nam cần có sự tư vấn, hỗ trợ của Hội CMKT quốc tế và chuyên gia của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế trong quá trình triển khai áp dụng IFRS, thông qua nhiều hình thức như: Đào tạo, cung cấp tài liệu giảng dạy, hỗ trợ kỹ thuật,… Ngoài ra, với kinh nghiệm lâu năm trong việc tư vấn áp dụng IFRS trên toàn cầu, một số tổ chức nghề nghiệp quốc tế và các công ty kiểm toán sẽ hỗ trợ Bộ Tài chính mà trực tiếp thông qua Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán, sẽ xây dựng lộ trình và triển khai áp dụng IFRS tại Việt Nam. Đồng thời, sẽ tư vấn, trợ giúp các DN có nhu cầu lập BCTC theo IFRS.

 

Theo thông lệ quốc tế, việc ban hành các CMKT được chuyển giao cho các tổ chức, hội hành nghề kế toán, kiểm toán. Việc làm này sẽ có hiệu quả hơn, bởi đây là những người có kinh nghiệm thực tiễn và là người trực tiếp triển khai, vận dụng các CMKT vào cuộc sống. Trong khi đó, hiện nay việc ban hành CMKT Việt Nam do Bộ Tài chính thực hiện mà chưa có sự góp mặt của các Hội Nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, các kiểm toán viên cũng như của các DN. Vì thế, trong thời gian tới, Việt Nam cần nâng cao vai trò của các hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán cũng như đóng góp ý kiến của các kế toán, kiểm toán viên trong việc vận dụng các chuẩn mực BCTC quốc tế đối với các công ty niêm yết, các công ty bảo hiểm, tổ chức tín dụng, ngân hàng,... và trong việc ban hành bộ CMKT quốc gia áp dụng riêng cho các DN còn lại.

 

Thứ tư, nâng cao chất lượng đào tạo kế toán. Để có thể áp dụng IFRS thì yếu tố đầu tiên mà Việt Nam cần quan tâm, đặc biệt chính là nguồn nhân lực kế toán. Một trong những lý do Việt Nam không phù hợp với các mô hình hội tụ khác chính là hạn chế về năng lực của đội ngũ kế toán viên. Việc vận dụng IFRS yêu cầu người lao động kế toán phải có kiến thức tốt, trình độ tiếng Anh giỏi. Trong khi đó, thực trạng đào tạo nhân lực kế toán của chúng ta hiện nay nghiêng về mặt đào tạo theo “Chế độ kế toán”, trang bị kiến thức mang tính chất hình thức mà không phải hướng tiếp cận theo bản chất. Chương trình đào tạo kế toán còn quá ít việc đào tạo CMKT quốc tế, chỉ có một số trường đưa môn học này giảng dạy. Bên cạnh đó, khả năng ngoại ngữ của sinh viên Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế. Vì vậy, trong thời gian tới, để Việt Nam có nguồn lao động đáp ứng được yêu cầu vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC, thì ngay từ bây giờ việc nâng cao chất lượng đào tạo hơn lúc nào hết cần được quan tâm.

Như vậy, áp dụng IFRS là xu thế tất yếu của các DN Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới. Việc nhìn nhận được những khó khăn, thách thức sẽ giúp các cơ quan Nhà nước và DN cùng tìm ra giải pháp hiệu quả, để sớm đưa IFRS vào áp dụng tại Việt Nam. Hy vọng với sự chung tay của các thể chế tài chính, cơ quan, ban ngành, như Bộ Tài chính, các Hiệp hội nghề nghiệp kế toán kiểm toán, các trường Đại học, cùng với sự cam kết hỗ trợ, tư vấn của IASB và tổ chức nghề nghiệp Quốc tế có kinh nghiệm và uy tín chuyên môn cao, IFRS sẽ sớm được áp dụng rộng rãi trong các DN Việt Nam.

---------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Ths. Nguyễn Ngọc Lan, Ths. Nguyễn Thị Cúc (2016), Hội tụ kế toán quốc tế ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, tháng 4/2016.

 

2. Ths. Nguyễn Thị Kim Chung (2016), Chuẩn mực BCTC Việt Nam và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 3/2016.

 

3. http://www.ifrs.org/IFRSs/Pages/IFRS.aspx truy cập ngày 07/12/2016.