Những nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán tại các quốc gia

Ngày đăng: 20/02/2017 - Lượt xem: 5338 (lần)
TS. Trần Quốc Thịnh Khoa kế toán - Kiểm toán, Đại học Ngân hàng Tp.HCM

Việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán nhận được sự quan tâm của nhiều Tổ chức quốc tế, các quốc gia và những nhà nghiên cứu bởi xuất phát từ ảnh hưởng lợi ích của các bên liên quan. Việc áp dụng này đã không đồng nhất giữa các quốc gia bởi sự khác biệt trong phương thức áp dụng. Để có thể nhìn nhận khái quát vấn đề này, bài viết đã tổng quan các nghiên cứu có liên quan nhằm xem xét việc ảnh hưởng cũng như các yếu tố cấu thành trong những nhân tố đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế của các quốc gia, trong đó tập trung xem xét và đánh giá đối với quốc gia Việt Nam. Kết quả cho thấy, các yếu tố về kinh tế, pháp lý, văn hóa và chính trị đã tác động và ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế của các quốc gia. Từ đó, Việt Nam cần có những giải pháp hoàn thiện để phát triển hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) của Việt Nam để phù hợp và đáp ứng với quá trình hội nhập với quốc tế.

Từ khóa: CMKT, nhân tố tác động, chuẩn mực quốc tế

Trong tiến trình phát triển, hệ thống kế toán của các quốc gia có sự đa dạng và phức tạp, được hình thành những bản sắc riêng biệt. Sự khác biệt đó có thể phát sinh từ mỗi quốc gia hay khu vực quốc gia tạo nên các trường phái kế toán khác nhau trên thế giới. Nhiều nguyên do dẫn đến sự khác biệt trong đó phải kể đến các yếu tố từ môi trường (Alia & Branson, 2010). Các nhân tố được hình thành đã tác động đến CMKT nói riêng và hệ thống kế toán nói chung của các quốc gia. Các nhân tố đó không tách rời nhau mà kết hợp với nhau để cấu thành những đặc trưng kế toán riêng (Tymothy & Hector, 2007). Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với những quốc gia đang phát triển trong việc xác định quan điểm, cách thức hội nhập với chuẩn mực quốc tế Phan Thi Hong Duc (2010), Trần Quốc Thịnh (2014). Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, Việt Nam cần đánh giá và xem xét những nhân tố tác động để có giải pháp và chiến lược phù hợp trong việc hoàn thiện và phát triển hệ thống CMKT quốc gia.

Các nghiên cứu trước liên quan đến tác động của các nhân tố áp dụng IFRS

Những nhân tố tác động việc áp dụng IAS/IFRS của các quốc gia nhận được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu của các tác giả. Nghiên cứu của Baker et al (2007) cho rằng sự khác biệt kế toán của các quốc gia phải kể đến đó là yếu tố kinh tế và pháp lý. Đây là hai nhân tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc lựa chọn chính sách, chiến lược phát triển của hệ thống chuẩn mực của quốc gia. Tymothy & Hector (2007) nhìn nhận theo quá trình hình thành và phát triển, các quốc gia và khu vực đã thiết lập, định hình những đặc trưng riêng. Những đặc điểm này về cơ bản có thể xuất phát từ các yếu tố kinh doanh, môi trường pháp lý và môi trường văn hóa. Chính những nhân tố từ các môi trường đã ảnh hưởng, chi phối đến hệ thống kế toán các quốc gia và đã tạo những khác biệt nhất định, hình thành sự đa dạng và phong phú đối với kế toán quốc tế. Nghiên cứu của Alia & Branson (2010) cho rằng sự đa dạng trong kế toán của các quốc gia phát xuất từ nhóm các môi trường như môi trường kinh tế, chính trị, luật và thuế, kinh doanh, nghề nghiệp và các yếu tố môi trường luôn có sự kết hợp và tác động lẫn nhau. Fatma Zehri & Jamel Chouaibi (2013) đã đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS/ IFRS của 74 quốc gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế, giáo dục đào tạo, hệ thống pháp luật có ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS/IFRS. Phan Thi Hong Duc, Bruno Mascitelli & Meropy Barut (2014) đã nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của Việt Nam khi áp dụng IFRS. Tại việt Nam, các nhân tố về môi trường tác động đến hệ thống kế toán Việt Nam được quan tâm của các nghiên cứu điển hình trước đây như Vũ Hữu Đức (1999), Tăng Thị Thanh Thủy (2009), Trình Quốc Việt (2009), Phạm Thị Thanh Hà (2009), Phan Thi Hong Duc (2010), Trần Quốc Thịnh (2014)... Mỗi tác giả có những nhận định riêng về các yếu tố tác động nhưng tựu chung đều cho rằng các yếu tố môi trường đã có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành và phát triển hệ thống kế toán cũng như việc áp dụng VAS.

Các nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRS của các quốc gia

Có thể thấy việc lựa chọn áp dụng IAS/IFRS của các quốc gia có sự khác biệt đáng kể. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên do trong đó bốn yếu tố cơ bản liên quan đến kinh tế, pháp lý, chính trị và văn hóa đã tác động đến việc áp dụng IAS/IFRS của các quốc gia.

Một là, Nhân tố kinh tế

Nhóm này bao gồm nhân tố liên quan đến nền kinh tế nói chung và đặc điểm của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc gia được đề cập trong các nghiên cứu của Enthoven (1965), Tweedie & Whittington (1984), Nobes & Parker (1995), Robert et al (2008), Bikki, Alessandra, Francesca (2016). Sự phát triển của nền kinh tế có quan hệ với kế toán. Một nền kinh tế phát triển đòi hỏi công cụ kế toán hữu hiệu nhằm tạo niềm tin cho giao dịch cũng như sử dụng vốn hiệu quả (Enthoven, 1965). Hệ thống kế toán phát triển theo định hướng phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế quốc gia. Ví dụ hệ thống kế toán của Úc trước đây rất gần với Anh do mối quan hệ thuộc địa trong quá khứ nhưng ngày càng tách biệt do những giao dịch thương mại tăng lên của Úc với Hoa Kỳ và các quốc gia Đông Nam Á (Robert et al, 2008). Lạm phát ảnh hưởng đến hệ thống kế toán quốc gia thông qua việc phát triển hay không các phương pháp kế toán đối phó với sự thay đổi lớn về chỉ số giá (Tweedie & Whittington, 1984). Nguồn cung cấp tài chính tác động đến cách thức và mức độ cung cấp thông tin kế toán. Tại một số các quốc gia mà nguồn tài chính cho doanh nghiệp chủ yếu từ thị trường vốn, hệ thống kế toán hướng đến việc công bố thông tin nhiều hơn, kiểm toán và trình bày hợp lý (Nobes & Parker, 1995). Cấu trúc doanh nghiệp cũng được xem là một nhân tố có ảnh hưởng đến kế toán. Khi quy mô kinh doanh và mức độ phức tạp của hoạt động doanh nghiệp tăng lên, hệ thống kế toán đòi hỏi phát triển những công cụ tương ứng (Bikki, Alessandra, Francesca, 2016). Báo cáo tài chính tập đoàn, hợp nhất kinh doanh, công cụ tài chính… là những ví dụ chứng minh cho luận điểm trên.

Như vậy có thể thấy yếu tố kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển đồng bộ của nền kinh tế quốc gia và điều này ảnh hưởng đến chiến lược áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán. Một nền kinh tế phát triển với thị trường vốn phát triển, cấu trúc doanh nghiệp đa dạng sẽ dễ dàng áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán. Điều này cũng dễ dàng nhận thấy đối với một số quốc gia đang phát triển sẽ khó khăn hơn bởi các điều kiện để thỏa mãn áp dụng của thị trường tài chính chưa phát triển, các giai dịch còn hạn chế.

Hai là, Nhân tố pháp lý

Pháp lý cũng là những nhân tố được ghi nhận sớm về ảnh hưởng đến hệ thống kế toán quốc gia liên quan đến các nghiên cứu của Nobes & Parker (1995), Robert et al (2008), Ajit, Han, Mike, Gökhan (2015). Hệ thống pháp luật được xem là một yếu tố tác động lớn đến hệ thống kế toán. Các quốc gia thuộc nhóm thông luật (common law) thường ít ban hành những quy định chi tiết về kế toán hơn các quốc gia thuộc hệ thống điển luật (code law) (Nobes & Parker, 1995). Hệ thống thuế cũng như quan hệ giữa thuế và kế toán là một nhân tố tác động đáng kể đến hệ thống kế toán. Robert et al (2008) chia thành ba nhóm quốc gia là nhóm có hệ thống kế toán và hệ thống thuế hoàn toàn độc lập như Hoa Kỳ, Anh; nhóm có hệ thống kế toán và hệ thống thuế chung một hệ thống, trong đó hệ thống thuế quy định chi tiết và kế toán phải theo các quy định của thuế, ví dụ như Pháp, Đức và nhóm có hệ thống thuế đơn giản được dựa trên thông tin của hệ thống kế toán như các quốc gia đang phát triển trong khối thịnh vượng chung. Ajit, Han, Mike, Gökhan (2015) cho rằng tính pháp lý đã tác động đến các quốc gia ở châu Âu sử dụng IFRS.

Yếu tố pháp lý đã ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán bởi các chuẩn mực này mang tính xét đoán nhiều hơn, được xem xét trên cơ sở nguyên tắc (principles) hơn là các qui định (rules). Do đó các quốc gia thông luật như Anh, Mỹ, Úc có xu hướng áp dụng dễ dàng hơn bởi tính linh hoạt, trong khi các quốc gia điển luật như Pháp, Đức thì việc vận dụng sẽ gặp những khó khăn nhất định bởi hệ thống luật ràng buộc.

Ba là, Nhân tố chính trị

Nhân tố chính trị liên quan đến vai trò của Nhà nước. Một số tác giả đề cập đến nhân tố này dưới dạng các thể chế chính trị trong đó Nhà nước can thiệp nhiều hay ít vào nền kinh tế (Robert et al, 2008). Một số khác nhìn nhận chúng như một sự liên quan chặt chẽ trong mối quan hệ chính trị - kinh tế như quan hệ giữa Hoa Kỳ với Canada và Mexico hoặc giữa Anh với các thuộc địa cũ (Doupnik & Perera, 2007). Trong những năm gần đây, nhân tố chính trị được nhắc tới dưới dạng các chính sách của quốc gia trong tiến trình hội tụ quốc tế nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia. Kees & Zeff (2007) phân tích quan hệ chính trị giữa EU, Hoa Kỳ và IASB trong việc ra quyết định về hội tụ kế toán. Ramanna (2011) phân tích cách thức ba quốc gia Canada, Trung quốc và Ấn độ trong việc lựa chọn chiến lược tiếp cận và ghi nhận chiến lược này phụ thuộc vào quan hệ sức mạnh giữa quốc gia với IASB.

Yếu tố chính trị được xem là đã tác động mạnh trong việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán. Yếu tố này thể hiện sự ảnh hưởng trong định hướng, chiến lược phát triển gắn với quá trình hội nhập quốc tế. Những quốc gia chủ động, tích cực hội nhập toàn cầu có xu hướng áp dụng một cách nhanh chóng hơn, trong khi một số quốc gia thận trọng trong đường hướng nên việc áp dụng còn hạn chế. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, những quốc gia với tiềm lực vốn lớn sẽ có sức ảnh hưởng và chi phối nhiều hơn trong việc áp dụng.

Bốn là, Nhân tố văn hóa

Lý thuyết Gray dựa trên nền tảng nghiên cứu của Hofstede (1984) về các khuynh hướng văn hóa. Trong nghiên cứu này, Hofstede đã xác định có bốn khuynh hướng văn hóa của các quốc gia ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, đó là: chủ nghĩa cá nhân/tập thể, khoảng cách quyền lực, né tránh/không né tránh những vấn đề chưa chắc chắn. Trên cơ sở đó, Gray đã phát triển và hình thành nhóm nhân tố ảnh hưởng đến các giá trị kế toán bao gồm phát triển nghề nghiệp/kiểm soát theo luật định, thống nhất/linh hoạt, thận trọng/lạc quan và bảo mật/công khai. Lý thuyết của Gray được nhiều nhà nghiên cứu khác sử dụng điển hình như Nobes (1998), Haniffa & Cooke (2002), Noravesh et al (2007), Borker (2012).

Yếu tố văn hóa đã ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực quốc tế của các quốc gia. Do đó những quốc gia có khuynh hướng thận trọng, né tránh những điều chưa chắc chắn, kiểm soát theo luật định, tính thận trọng sẽ ít chấp nhận áp dụng ngay đối với chuẩn mực quốc tế về kế toán mà sẽ thực hiện theo lộ trình. Tuy nhiên, những quốc gia mà tính linh hoạt, có sự phát triển của nghề nghiệp kế toán, đảm bảo tính công khai… sẽ có xu hướng thích nghi nhanh và dễ dàng áp dụng hơn.

Nhận định những nhân tố môi trường tác động đến hệ thống VAS

Như trên đã trình bày, các quốc gia có sự khác biệt đáng kể về môi trường kinh tế, pháp lý, chính trị và văn hóa và điều này đã tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán. Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển trong khu vực và quốc tế cũng đã chịu tác động bởi các yếu tố môi trường trongquá trình hình thành và phát triển CMKT.

Một là, Nhân tố kinh tế

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù Nhà nước chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế nhưng kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế. Trong chiến lược phát triển kinh tế đã nêu rõ Việt Nam cần phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp, đồng thời phải tăng cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước và kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011). Ngoài ra, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là DNNVV. Duy Phương (2015) doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp của cả nước và các doanh nghiệp này đóng góp 50% GDP và tạo ra 62% việc làm cho người lao động. Đối với thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây có những biến chuyển tích cực, đặc biệt là thị trường chứng khoán đã có những tiến triển nhất định. Trong giai đoạn 2000 - 2005 vốn hóa thị trường đạt xấp xỉ 1% GDP nhưng đến năm 2006 quy mô thị trường đã đạt 22,7% GDP và tiếp tục đạt mức trên 43% GDP vào năm 2007. Do khủng hoảng kinh tế thế giới, mức vốn hóa trong những năm sau có giảm, tuy nhiên mức vốn hoá thị trường năm 2013 tăng so với năm 2012, đạt khoảng 964 nghìn tỉ đồng (tăng 199 nghìn tỉ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% GDP. Sự gia tăng của các chỉ số đã đưa thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một trong mười quốc gia có mức độ phục hồi mạnh nhất thế giới. Tổng dòng vốn nước ngoài luân chuyển trong năm 2014 tăng 54% và giá trị danh mục tăng khoảng 3,8 tỉ USD so với cuối năm 2015. Số tài khoản nhà đầu tư đạt khoảng 1,27 triệu tài khoản, trong đó số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài tăng 55% (Vũ Trọng, 2015). Với thị trường tài chính được lành mạnh cũng như thị trường chứng khoán ổn định thì ngày càng Có nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước do đó đòi hỏi chất lượng thông tin phải hợp lý để đáp ứng nhu cầu ra quyết định kinh doanh. Điều này cũng đồng nghĩa các nguyên tắc, phương pháp kế toán cần phải được chuẩn hóa theo hệ thống CMKT. Vấn đề này cũng tương tự như quan điểm của Robert et al (1998) cho rằng hệ thống kế toán phát triển phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.

Hai là, Nhân tố pháp lý

Nhìn chung các hoạt động kinh tế được điều hành bởi các Luật và các qui định pháp lý. Luật Kế toán (2015) quy định khá chi tiết về kế toán so với các quốc gia theo thông luật. Hệ thống CMKT do Bộ Tài chính là một cơ quan Nhà nước ban hành. Các qui định trong Luật Kế toán đã ảnh hưởng và chi phối đến các nguyên tắc và phương pháp của CMKT. Trong môi trường pháp lý như trên, các tổ chức nghề nghiệp không có chức năng lập quy. Năm 2005, theo Quyết định 47/2005/QĐ-BTC, Bộ Tài chính đã giao bổ sung những quyền hạn cho Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam trong đó chỉ dừng lại ở việc Hội cử cán bộ chuyên môn tham gia Hội đồng Kế toán quốc gia, các ban soạn thảo CMKT, chuẩn mực kiểm toán hoặc soạn thảo Chế độ kế toán (Bộ Tài chính, 2005). Điều này phù hợp với nhận định của Robert et al (1998) cho rằng hệ thống Luật, các qui định liên quan cũng như vai trò của tổ chức nghề nghiệp sẽ tác động đến hệ thống kế toán quốc gia.

Ba là, Nhân tố chính trị

Nhóm nhân tố chính trị có tác động mạnh mẽ đến quá trình hội tụ kế toán quốc tế và điều này khá đúng với Việt Nam. Quá trình hình thành các CMKT Việt Nam phản ảnh ý chí của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu để đạt được các mục tiêu chính trị và kinh tế. Nguyen Cong Phuong & Jacques Richard (2011) cho rằng Việt Nam ban hành các CMKT xuất phát từ áp lực để được chấp nhận là thành viên của WTO. Khi chuẩn bị gia nhập WTO và thực hiện chủ trương đa phương hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đã dứt khoát và mạnh mẽ thực hiện quá trình hình thành CMKT với xuất phát điểm hầu như bằng không. Một lần nữa, khi Việt Nam trong tiến trình gia nhập tổ chức Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng như Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), các CMKT Việt Nam được khởi động bằng việc ban hành 8 dự thảo CMKT và các chuẩn mực này tương tự như chuẩn mực quốc tế về kế toán (IAS/IFRS). Điều này cũng phù hợp với giải thích của Ramanna (2011) về tác động của chính trị đối với quá trình hội tụ kế toán quốc tế.

Bốn là,Nhân tố văn hóa

Sự tác động của văn hóa đến hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu chính thống. Trong hệ thống đo lường các khuynh hướng văn hóa của Hofstede, Việt Nam được đánh giá với mức điểm tương ứng: chủ nghĩa cá nhân (70), khoảng cách quyền lực (20), né tránh những vấn đề chưa chắc chắn (40), định hướng dài hạn (30) và nam tính (80) (Hofstede, 2016). Với các thông số trên, áp dụng lý thuyết của Gray (1988), trong hệ thống kế toán Việt Nam tính chất thận trọng được đề cao, nhấn mạnh đến sự tuân thủ các qui định, hạn chế những vấn đề mang tính xét đoán. Điều này tỏ ra mâu thuẫn với thực tế Việt Nam nhanh chóng ban hành các CMKT dựa trên chuẩn mực quốc tế.

Kết luận

Những đặc điểm liên quan đến các yếu tố về kinh tế, chính trị, pháp lý và văn hóa đã ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS của các quốc gia, không riêng quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên trong xu hướng hội nhập và phát triển, Việt Nam cũng cần có những chiến lược phù hợp, giải pháp hữu hiệu đồng bộ nhằm điều chỉnh cho thích hợp các đặc điểm của Việt Nam để có thể hoàn thiện và phát triển hệ thống VAS tương thích với quốc tế. Đây là khó khăn, thử thách trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về kế toán nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam thu hút nguồn vốn cho phát triển kinh tế.

--------------------------

Tài liệu tham khảo

Ajit Dayanandan, Han Donker, Mike Ivanof, Gökhan Karahan. (2015). IFRS and accounting quality: legal origin, regional, and disclosure impacts. International Journal of Accounting & Information Management, Vol. 24 Iss: 3, pp.296 – 316

Alia Muiz & Branson Joël .(2010). The Illusion of Comparable European IFRS Financial Statements-The View of Auditors, Analysts and Other Users

Baker et al .(2007). Evolution of research on international accounting harmonization: A historical and institutional perspective. Socio-Economic Review.

Bikki Jaggi, Alessandra Allini, Francesca Manes Rossi. (2016). Impact of Accounting Traditions, Ownership and Governance Structures on Financial Reporting by Italian Firms. Review of Pacific Basin Financial Markets and Policies, Volume 19, Issue 01,

Borker .(2012). Accounting, Culture And Emerging Economies: IFRS In Central And Eastern Europe. International Business & Economics, 11(9).

Bộ Tài chính .(2005). Quyết định 47/2005/ QĐ-BTC về việc chuyển giao cho Hội nghề nghiệp thực hiện một số nội dung công việc quản lý hành nghề kế toán và kiểm toán.

Enthoven .(1965). Economic development and accountancy. Journal of Accountancy, (August).

Fatma Zehri & Jamel Chouaibi, 2013. Adoption determinants of the International Accounting Standards IAS/IFRS by the developing countries.

Gray .(1988). Towards a theory of cultural influence on the development of accounting systems internationally. Abacus, March

Hofstede G. (2016). Cultural Demesion of Vietnam. [on line] Available at: <http://geert- hofstede.com/vietnam.html> [Accessed October 4, 2016].

Kees & Zeff . (2007). Financial Reporting and Global Capital Markets: A history of the International Accounting Standard Committee, 1973 – 2000. Oxford University Press.

Nguyen Cong Phuong & Jacques Richard .(2011). Economic Transition and Accounting System Reform in Vietnam. European Accounting Review.

Noravesh et al .(2007). The impact of culture on accounting: does Gray’s model apply to Iran? Review of Accounting and Finance, 6(3).

Nobes .(1998). Towards a general model of the reasons for international differences in financial reporting. Abacus 
Nobes & Parker (1995). Comparative International Accounting, Prentice Hall.

Ramanna (2011). The international politics of IFRS harmonization. Harvard Business School Accounting Phạm Thị Thanh Hà .( 2009). Một số định hướng cho kế toán Việt Nam trong tiến trình hội tụ kế toán quốc tế. Luận văn thạc sỹ. Đại học kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.

Quốc hội. (2015). Luật kế toán. Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia.

Robert et al .(2008). International Financial Accounting: A Comparative Approach. Financial Times Pitman Publishing 
Tăng Thị Thanh Thủy .(2009). Quá trình hòa hợp – hội tụ kế toán quốc tế và phương hướng giải pháp cho Việt Nam. Luận văn thạc sỹ. Đại học kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.

Trần Quốc Thịnh. (2014). Định hướng xây dựng chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam đáp ứng xu thế hội tụ kế toán quốc tế. Luận án tiến sỹ, Đại học Kinh Tế Tp.HCM

Vũ Hữu Đức .(1999). Phân tích các nhân tố tác động đến hệ thống kế toán tại các quốc gia để xác định phương hướng hòa nhập với các thông lệ kế toán quốc tế của Việt Nam. Chuyên đề Tiến sĩ. Đại học kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.