Thực trạng và kiến nghị để lập BCTC theo chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) của tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN)

Ngày đăng: 19/02/2017 - Lượt xem: 682 (lần)
Thực trạng về lập BCTC theo IFRS của EVN Theo cam kết tại các Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu Á. Hàng năm, EVN lập báo cáo tài chính (BCTC) theo IFRS trên cơ sở chuyển đổi từ BCTC theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) đã được kiểm toán.

Thực tế hiện nay, EVN gửi BCTC lập theo VAS cho các cơ quan có thẩm quyền cũng như sử dụng cho mục đích quản lý. Báo cáo theo IFRS được dùng để gửi tổ chức tín dụng theo cam kết.

Do có nhiều khác biệt lớn giữa VAS và IFRS, nên báo cáo chuyển đổi sang IFRS của EVN không thể tuân thủ toàn diện theo IFRS.

 

Những thuận lợi khi áp dụng IFRS

Việc lập BCTC theo IFRS sẽ tăng tính minh bạch về tài chính của EVN và có liên quan chặt chẽ đến kế hoạch khôi phục năng lực tài chính của EVN trong các lĩnh vực nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp (DN) và BCTC.

Ngoài ra, việc áp dụng IFRS còn là yếu tố quan trọng trong chiến lược tái cấu trúc EVN, để nâng cao khả năng huy động vốn và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

EVN đã có những hiểu biết nhất định về IFRS, do đã thực hiện chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS.

 

Những khó khăn khi áp dụng IFRS

Chế độ Kế toán

Xây dựng Chế độ Kế toán (CĐKT) riêng cho EVN: IFRS là các hướng dẫn mang tính nguyên tắc nhiều hơn là hướng dẫn về cách hạch toán. Ngoài ra, do vấn đề về ngoại ngữ và năng lực hiện tại của đội ngũ kế toán tại các đơn vị của EVN, EVN cần phải có một hệ thống kế toán thống nhất để các đơn vị có thể hạch toán theo các hướng dẫn của IFRS. Theo đó, Bộ Tài chính cần xây dựng hệ thống văn bản pháp lý hướng dẫn về việc lập BCTC theo IFRS. Trên cơ sở đó, EVN sẽ xây dựng và ban hành CĐKT riêng cho EVN, để đảm bảo tất cả các kế toán từ các đơn vị cấp 4 trở lên, có thể thực hiện công việc hạch toán kế toán hàng ngày. CĐKT cần bao gồm đầy đủ các nội dung sau:

- Hệ thống tài khoản 
- Hệ thống số kế toán 
- Hệ thống BCTC 
- Hướng dẫn hạch toán các nghiệp vụ

Cập nhật theo các thay đổi của IFRS: Hàng năm, Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) đều ban hành các chuẩn mực mới/sửa đổi các chuẩn mực hiện tại để phù hợp với điều kiện thực tế. Theo đó, nhân sự của EVN cũng cần được tổ chức đào tạo, cập nhật thường xuyên để nắm bắt được các thay đổi này. Đồng thời, CĐKT của EVN cũng cần được cập nhật hàng năm.

Hệ thống báo cáo quản trị: EVN cũng cần xây dựng hệ thống báo cáo quản trị mới dựa trên các thông tin từ BCTC theo IFRS, để phục vụ cho công tác quản trị nội bộ và lập chiến lược.

Các quy định về chế độ chính sách liên quan (Tài chính, tiền lương, thuế,...)

Là một DN Nhà nước hoạt động tại Việt Nam, ngoài việc tuân thủ đầy đủ các quy định của CĐKT, EVN còn chịu tác động của các chế độ chính sách khác như chế độ tài chính, tiền lương, thuế,... Việc EVN lập BCTC theo IFRS đòi hỏi các chế độ chính sách này phải sửa đổi, để đồng bộ với thông tin dữ liệu được hạch toán theo IFRS, cụ thể:

- Các vấn đề về quản lý Nhà nước về hoạt động và công bố thông tin cũng cần được thay đổi (Đánh giá lại TSCĐ, cổ phần hóa và xác định giá trị DN khi cổ phần hóa, đánh giá xếp loại DN,…).

- Cơ chế tiền lương đối với EVN cũng cần được xây dựng riêng, để phù hợp với tình hình tài chính của Tập đoàn.

- Cơ chế tài chính đặc thù áp dụng với EVN cũng cần phải sửa đổi cho phù hợp (Khấu hao TSCĐ, chênh lệch tỷ giá, phân bổ công cụ dụng cụ, phân phối lợi nhuận,…).

+ Chế độ về Thuế cũng cần được Bộ Tài chính/Tổng cục Thuế xem xét cơ chế riêng áp dụng cho EVN do: Quyết toán Thuế của EVN được lập căn cứ trên BCTC theo VAS và điều chỉnh các khác biệt về quy định của Luật Thuế. Tuy nhiên, việc lập BCTC theo IFRS sẽ phát sinh rất nhiều chênh lệch giữa BCTC và Báo cáo Thuế và cần phải theo dõi trong thời gian dài như:

+ Khấu hao TSCĐ không theo quy định hiện hành về Thuế, do đánh giá lại/áp dụng khung khấu hao khác/thay đổi khung khấu hao nhiều lần của 1 tài sản (TT 45/2013/TT-BTC);

+ Chênh lệch khấu hao do điều chỉnh lại lãi vay vốn hóa của các TSCĐ sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi;

+ Xử lý chênh lệch tỷ giá chi tiết theo công trình do có khác biệt về cơ chế tài chính hiện tại (NĐ 82/2014/NĐ-CP) và IFRS;

+ Các nghiệp vụ phát sinh do áp dụng chuẩn mực về giá trị hợp lý (Phải thu, phải trả, các khoản đầu tư, vay, tổn thất tài sản,…). 
... 
Theo đó, việc tham chiếu giữa BCTC theo IFRS và báo cáo quyết toán thuế theo Luật thuế hiện hành là không thực hiện được. Dẫn tới việc áp dụng phải song song hai hệ thống BCTC theo VAS và IFRS tại các đơn vị của EVN, để đáp ứng yêu cầu của Cơ quan thuế là không khả thi do các hạn chế về tài chính và nguồn nhân lực.

 

Xử lý các vấn đề lịch sử

BCTC của EVN đang phản ánh các nghiệp vụ đặc thù phát sinh từ lâu được ghi nhận khác biệt với IFRS (đánh giá lại TSCĐ trong quá trình cổ phần hóa các DN hoặc theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hạch toán chi phí lãi vay của các Hiệp định ưu đãi lãi suất tài trợ cho xây dựng công trình điện, cổ tức nhận bằng cổ phiếu,…). Các nghiệp vụ này có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính của EVN qua các năm. Việc áp dụng IFRS trong năm đầu tiên sẽ yêu cầu các đơn vị của EVN phải xử lý các vấn đề này. Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và nhân lực có thể dẫn tới việc không thể xử lý được triệt để số dư năm đầu tiên áp dụng IFRS.

 

Đối tượng áp dụng 
Các công ty con/liên kết của EVN là công ty cổ phần cũng sẽ là đối tượng phải lập BCTC hoặc thông tin tài chính cho mục đích hợp nhất tuân thủ IFRS của EVN. Theo đó, công việc này cũng gây nhiều khó khăn cho EVN, do EVN chỉ là một cổ đông của các công ty cổ phần này, việc yêu cầu các công ty này lập BCTC theo IFRS cần phải có quy định cụ thể của Bộ Tài chính để các cổ đông khác (ngoài EVN) đồng thuận trong việc thực hiện.

 

Hệ thống công nghệ thông tin 
Để lập BCTC theo IFRS đòi hỏi EVN phải đầu tư kinh phí lớn, để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin mới (bao gồm phần mềm kế toán) để đáp ứng các yêu cầu về ghi nhận/xử lý thông tin cho việc lập BCTC và các thuyết minh thống nhất giữa tất cả các đơn vị trong EVN. Đồng thời, hệ thống này cũng phải đáp ứng các yêu cầu về tổng hợp thông tin trên góc độ toàn EVN để phục vụ cho mục đích hạch toán kế toán và trình bày thông tin (hợp nhất kinh doanh, giao dịch và số dư với các bên liên quan,…).

Nhân sự

Với nguồn nhân lực kế toán hiện tại của EVN không thể đáp ứng được yêu cầu trong việc lập BCTC theo IFRS. Do đó, EVN cần xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực kế toán đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm IFRS và ngoại ngữ để đảm bảo việc nghiên cứu IFRS và cập nhật hàng năm, thông qua việc đào tạo kiến thức và tuyển dụng nhân sự mới. Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và nguồn kinh phí.

 

Nguồn lực tài chính

Việc lập BCTC theo IFRS cần có sự tham gia của các chuyên gia tư vấn liên quan đến các lĩnh vực đặc thù (định giá tài sản cố định trên cơ sở định kỳ,…) hoặc phải sử dụng các nguồn thông tin từ bên ngoài (lãi suất, tổn thất tài sản, giá trị thanh lý,…). Đồng thời, Tập đoàn cần thêm nguồn tiền đầu tư để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin và nguồn nhân lực cần thiết, để vận hành/sử dụng hệ thống và lập BCTC.

Tính sẵn có của các thông tin đáng tin cậy

Việc lập BCTC tuân thủ IFRS yêu cầu rất nhiều thông tin cho việc xác định xác định cũng như trình bày các thuyết minh này, ví dụ:

- Xác định giá trị hợp lý của hàng tồn kho/TSCĐ/phải thu/phải trả, …;

- Xác định tổn thất tài sản cố định (so sánh giữa giá trị thanh lý trừ chi phí ước tính để bán và chiết khấu dòng tiền của việc tiếp tục sử dụng TSCĐ);

- Thông tin về giá trị các khoản đầu tư tài chính;

- Thông tin về chi phí hoàn nguyên môi trường; 
...

IFRS được xây dựng để áp dụng cho các nền kinh tế phát triển, khi mà các yếu tố thị trường đã phát triển đồng bộ, có thị trường thuận lợi cho định giá các loại tài sản theo giá thị trường. Các yếu tố này chưa có được đầy đủ ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam (như mức độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với các nước phát triển, do vậy, các hoạt động kinh tế ở Việt Nam cũng đơn giản hơn. Ngoài ra, thị trường vốn của Việt Nam cũng mới được hình thành và vẫn chưa hẳn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, mới chỉ trong phạm vi quốc gia và chưa liên thông với thị trường vốn trên thế giới). Theo đó, việc xác định các thông tin đáng tin cậy cho việc lập BCTC gặp nhiều khó khăn nên việc áp dụng nguyên vẹn bộ Chuẩn mực IFRS gặp không ít trở ngại.

 

Cơ chế giá bán lẻ điện

Là một DN hoạt động trong lĩnh vực đặc thù (sản xuất, truyền tải, phân phối điện), các chi phí đầu vào và giá bán điện đầu ra chịu sự điều tiết của Nhà nước.

Theo quy định hiện hành, giá bán lẻ điện được điều chỉnh theo sự biến động của các yếu tố đầu vào và theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, Chính phủ sẽ phê duyệt việc điều chỉnh này trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng có thể có đến nền kinh tế.

Việc thay đổi các yếu tố đầu vào theo BCTC tuân thủ IFRS, có thể ảnh hưởng lớn đến chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các năm (tỷ giá, khấu hao,...) trong khi giá bán lẻ điện được điều chỉnh bởi Chính phủ. Theo đó, kết quả hoạt động kinh doanh của EVN sẽ biến động rất lớn và như vậy, sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề khác như cơ chế tiền lương/thưởng, phân phối các quỹ, đánh giá xếp loại DN,… hay chiến lược tái cấu trúc của EVN.

 

Kiến nghị

Để có cơ sở cho việc áp dụng lập BCTC theo IFRS tại EVN, EVN kính đề nghị: 
- Bộ Tài chính sớm ban hành các quy định pháp lý, để hướng dẫn việc lập BCTC theo IFRS tại các DN.

- Sau khi Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn, EVN sẽ triển khai xây dựng các quy định về CĐKT, quản trị nội bộ và phần mềm kế toán,... phù hợp với việc áp dụng IFRS trước khi áp dụng chính thức trong toàn EVN (dự kiến thời gian chuẩn bị là 1 năm).

- Giai đoạn trước mắt, EVN sẽ chủ động nghiên cứu IFRS và đào tạo về IFRS cho đội ngũ cán bộ kế toán EVN, chuẩn bị các dữ liệu cần thiết cho việc lập BCTC theo IFRS,...